· Forums · Reply · Search · Statistics ·
Văn Hoá & Phong Tục MacDinhChiReunion.net / Văn Hoá & Phong Tục /

Ta và Người - Theo Vương Trí Nhàn

 #1 · Posted: 19 Feb 2012 15:41 · Edited by: vgtran 
vgtran
Moderator
Ta và Người







Lời mở đầu:

(Người Việt và việc tiếp nhận văn hóa nước ngoài trong con mắt của một số trí thức Việt Nam đầu thế kỷ XX).

Đằng sau câu chuyện về tính ưa dùng hàng ngoại, thật ra có ẩn dấu những vấn đề lớn lao của mối quan hệ giữa cộng đồng người Việt ḿnh với các cộng đồng mà chúng ta có tiếp xúc trong suốt trường kỳ lịch sử.

Trong các công tŕnh nghiên cứu văn hóa của một quốc gia, thường người ta không quên để riêng một phần nói về lịch sử giao lưu văn hóa của nước chủ nhà với các nước khác, các nền văn hóa khác.

Nhu cầu tự nhận thức buộc người ta phải làm vậy.

Không một dân tộc nào chỉ sống khép kín mà không quan hệ với các cộng đồng khác.

Tối thiểu th́ trong mối quan hệ này, các dân tộc sẽ học hỏi để ngày mỗi trở nên mạnh mẽ hơn giàu có hơn.

C̣n nói cho to tát ra th́ đây chính là chỉ số đánh dấu tŕnh độ trưởng thành của mỗi dân tộc với tư cách một bộ phận của nhân loại.

Trong quá tŕnh này, ư thức về ta và người nẩy sinh, nó cũng là một khía cạnh làm nên tâm thế làm người, một hằng số lặp đi lặp lại ở nhiều thế hệ.

Hiện trong các công tŕnh nghiên cứu về văn hóa Việt Nam, vấn đề này gần như chưa được đặt ra.

Song ở dạng những nhận xét tạt ngang, nó đă được các nhà trí thức các nhà hoạt động văn hóa trong quá khứ quan tâm và phát biểu đây đó.

Mấy năm trước chúng tôi đă trích lục một số ư kiến này để đưa vào mục Người xưa cảnh tỉnh, in rải rác trên mặt báo.

Nay xin hệ thống hóa lại và giới thiệu chúng theo tŕnh tự thời gian mà các tác giả đă phát biểu. Các đầu đề nhỏ là do người biên soạn đặt.


*

1- Sống như mơ ngủ

Nước ta từ ngày Pháp sang bảo hộ trên mấy mươi năm, người ḿnh học Tây học chỉ làm được việc phiên dịch nói phô mà thôi, không có ai hấp thu được chỗ tinh tuư, phăn (phanh) t́m đến nơi màu nhiệm về mà đào tạo ra học tṛ để làm việc vẻ vang cho ṇi giống. Trái lại, bụng không một hạt gạo mà nói chuyện thi thư (1), tay không nửa đồng mà tự xưng Khổng Mạnh. Có lẽ da thịt huyết tuỷ của người nước ḿnh mấy ngàn năm nay đă bị cái hấp lực của huyết dẫn người Tàu chi phối hết cả, nên ngày nay đành làm nộm rối cho người Tàu mà không tự biết chăng? Không thế th́ sao lửa đốt bên da mà không biết nóng, sét đánh ngang trán mà không biết sợ, thày hay bạn giỏi ở một bên mà không biết gắng sức bắt chước bước theo. Thậm nữa trằn trọc tráo trở, một hai toan t́m một nước thứ ba nào yêu thương ḿnh mà vui ḷng làm tôi làm tớ.

Hiện trong lúc ngủ say mới tỉnh, xu hướng chưa định, học mới học cũ ngả đường phân chia công hội thương hội chương tŕnh chưa nên, thành hiện ra một cái quái tượng, đầy nhà rối rít ồn ào, chưa giải quyết vội được.

(1) Nghĩa gốc: Kinh Thi và Kinh Thư. Ở đây chỉ việc học hành ở tŕnh độ cao


Phan Châu Trinh

Hiện trạng vấn đề, 1907

2- Tuỳ tiện cẩu thả trong giao lưu tiếp xúc

Xét nước ta các đời thụ phong Trung quốc chỉ là chính sách ngoại giao cho nên coi là tṛ chơi, không coi là vẻ vang.

Kẻ lấy Trung quốc làm ỷ lại, ắt là vào thời cuối (1): vua nhác, tôi nịnh, binh bị không sửa sang, coi họ như cha mà quên điều nanh ác. Thời cuối các đời Trần, Lê đều có, mà triều ta (2) lại càng nhiều.

Sứ thần ngày xưa làm nhục được người Trung quốc coi như vinh dự. Những kẻ đi việc sứ đời sau lấy việc được một bài thơ, bài văn, một lời than tiếng cười của sĩ phu Trung quốc trở về để khoe khoang với bạn bè làm vẻ vang.

Mặt này lại là một điều suy sút của sĩ phu nước ta.

(1) tức giai đoạn suy tàn của một triều đại
(2) triều ta đây tức là nhà Nguyễn


Phan Châu Trinh

Nước Việt Nam mới sau khi Pháp Việt liên hiệp,1912


3- Sang đến xứ người cũng không biết đường học hỏi

Người nước ta thường tự xưng là đồng loại, đồng đạo, đồng văn (1) với Nhật Bản, thấy họ tiến th́ nức nở khen, chứ không khi nào chịu xét v́ sao họ được tiến tới như thế? Họ chỉ đóng tàu đúc súng mà được giàu mạnh hay họ c̣n trau dồi đạo đức sửa đổi luân lư mới được như ngày nay?

Tôi rất lấy làm lạ cho những người đă qua Nhật về, không đem cái hay cái tốt về cho dân nhờ mà chỉ làm giàu thêm tính nô lệ!
Hay là người ḿnh như kẻ đă hư phổi rồi cho nên một nơi có thanh khí như nước Nhật mà cũng không thở nổi chăng?!

Lấy lịch sử mà nói th́ dân tộc Việt Nam không phải là không thông minh, thế th́ v́ lẽ nào ở dưới quyền bảo hộ hơn 60 năm nay (2) mà vẫn c̣n mê mê muội muội bịt mắt vít tai không chịu xem xét không chịu học hỏi lấy cái hay cái khéo của người.

(1) cùng theo đạo Khổng cùng sử dụng chữ Hán
(2) tính tới thời điểm tác giả nói trong bài này, nước Pháp mới đô hộ nước ta 60 năm



Phan Châu Trinh

Đạo đức và luân lư Đông Tây, 1925


4- Dễ ỷ lại

Tục ngữ có câu rằng Tháp đổ đă có Ngô xây – Việc ǵ vợ goá lo ngày lo đêm. Tháp đó là tháp của ta, ta không xây được hay sao? Nghểnh đầu nghểnh cổ trông ngóng, nếu Ngô không sang th́ vạn tuế thiên thu chắc không bao giờ có tháp. Tháp đổ mặc tháp, khoanh tay đứng ḍm, nghiễm nhiên một đống bồ nh́n rồi hẳn. Hỏi v́ cơn cớ làm sao? Th́ chỉ v́ ỷ lại.

Phan Bội Châu

Cao đẳng quốc dân, 1928


5- Thạo sử người hơn sử ḿnh

Sĩ tử khắp nước ta làu thông kinh sách mà không biết đất đai của nước ta và ṇi giống dân ta như thế nào.

Họ chỉ biết Hán Cao Tổ, Đường Thái Tông mà không biết Đinh Tiên Hoàng, Lê Thái Tổ ra làm sao.

Họ chỉ biết Khổng Minh, Địch Nhân Kiệt, mà không biết các bề tôi Tô Hiến Thành, Trần Quốc Tuấn thờ vua giúp nước như thế nào.
Họ chỉ biết núi Thái Sơn cao chót vót, sông Hoàng Hà cao thăm thẳm, nhưng không hề hay biết núi Tản Viên từ đâu tới, sông Cửu Long ở Nam Kỳ phát nguyên từ nơi nào.

Ưa chuộng phong tục nước ngoài cho nên bao nhiêu nghi lễ về quan hôn tang tế (1), chúng ta đều bắt chước người Trung Hoa cả.

Người nước ta lại c̣n lấy kỹ nghệ nước ngoài làm ưa thích. Đă không chịu học hỏi cách biến chế, óc sáng kiến của họ, mà lại đi tiêu thụ hàng hoá giúp cho họ. Đa số những vật liệu như đồ sứ hàng tơ lụa, hàng thêu, hàng đoạn (2)…, chúng ta đều đi mua sắm từ bên Trung quốc về dùng. Rồi dần dà lâu ngày, linh hồn của dân ta tự nhiên bị đổi dời, trí năo của dân ta tự nhiên bị bưng bít mà ta không hề biết, chỉ v́ cái cớ chúng ta chuyên trọng Bắc sử (3) mà thôi.

(1) Các việc thuộc về đ́nh đám, ma chay, cưới xin v..v..
(2) Hàng dệt bằng tơ, mặt bóng mịn
(3) Tức lịch sử Trung Hoa


Hoàng Cao Khải

Việt sử yếu, 1914


6- Học đ̣i làm dáng một cách sống sượng

Cứ chiều đến, độ sáu bảy giờ, đứng ở góc hồ Hoàn Kiếm, trông kẻ đi qua người đi lại, thấy ngứa mắt quá. Nhất là trông mấy ông ăn mặc quần áo Tây. Gớm sao mà khéo bắt chước, giá sử sự học hành, sự buôn bán mà cũng bắt chước được khéo thế th́ hay quá! Ông cổ cồn trắng, cổ nút xanh, nút đỏ, đầu th́ mũ cỏ, tay th́ ba toong, giày th́ bóng nhoáng, hai ngón tay th́ khéo gẩy gẩy cái nách áo gi-lê. Ông ngồi xe thực khéo lấy dáng. Ngày xưa cái ô lục soạn, cái điếu thuốc lá bọt. Nay những cái ấy đă cho là đồ cũ rồi. Cái xe Nhật Bản bây giờ cũng bỏ. Bây giờ có xe cao su, êm hơn mà ngồi ưỡn ra bệ vệ hơn nhiều. Tay cầm quyển sách hay là cái nhật tŕnh (1), mắt giả lờ trông th́ lại ra tuồng (2) nữa.

Em (3) thực là người hiếu (4) sự duy tân. Cách ăn mặc An Nam đội cái khăn bằng cái rế, búi tóc như quả bưởi, áo lướt tha lướt thướt, giày lẹp cà lẹp kẹp, móng tay găi đầu như người rũ chiếu, th́ cũng bẩn lắm thực. Em cũng muốn rằng người An Nam ăn mặc cho gọn gàng sạch sẽ diện mạo tinh nhanh, nhưng mà thấy những tṛ sài sơn (5) của các ông cũng ngứa mắt lắm.

(1) báo ra hàng ngày
(2) trông có vẻ phường tuồng
(3) bài này in trong mục Nhời đàn bà của Đăng cổ tùng báo, kư Đào Thị Loan nên tác giả xưng em
(4) ưa thích
(5) chúng tôi chưa tra cứu được chỉ đóan là làm dáng ăn diện


Nguyễn Văn Vĩnh

Đăng cổ tùng báo, 1907


7- Thị hiếu tầm thường

Cái lư thú của nước Nam ta nhỏ mọn lắm.

Ḱa cái đồng hồ từ tám mươi đời th́ quấn vải tây điều, kết quả găng. Nọ núi non bộ khéo chắp tỉ mỉ trong trồng cây uốn con phượng. Cầu quán con con, thuyền bé lí tí. Câu đối với tranh th́ hết tứ thời phong cảnh lại đến thiên lư giang sơn.

Thi hoạ nhỏ nhen, thi chẳng ra thi hoạ chẳng ra hoạ.

Giang sơn treo cửa sổ, sơn thuỷ để đầu giường. Hoành phi câu đối th́ chữ nghĩa đẹp phẩy mác hơn đẹp ư t́nh (1). Đồ chạm đồ cẩn th́ tỉ mỉ con dơi già quả mướp non, người ngoại quốc mua cho cũng là thương công hơn trọng khéo. Ghế giường bàn tủ dáng dấp nặng nề.

Nói tóm lại th́ người Nam ḿnh chưa cái ǵ là cái khéo. Mà càng bắt chước Tây bắt chước Tàu bao nhiêu, càng xấu bấy nhiêu.

Người mỗi ngày một hay, vi xảo là thông ngôn ông Tạo hoá (2). Ta mỗi ngày một đổ (3), vi xảo là cơn hứng chí điên cuồng. Học chẳng phải mà bắt chước chẳng phải.

Xảo nghệ muốn noi theo ngoại quốc, là phải noi lư tưởng chớ không nên bắt chước phù hoa. Kẻo mà khéo thêm ra chẳng thấy đâu, lại đang nghề nguyên lành hoá nghề lang lố (4).

(1) phẩy mác là tên gọi các nét trong chữ Hán.
(2) vi xảo: sự kỹ lưỡng khéo léo; cả câu ư nói sự hoàn chỉnh của sản vật đạt đến mức như là tự nhiên sinh ra đă vậy.
(3) kém đi, hỏng đi.
(4) Nghĩa như nhố nhăng.


Nguyễn Văn Vĩnh

Đăng cổ tùng báo, 1907


8- Vay mượn tuỳ tiện thêm thắt lung tung

Ngày nay có cải lương (1) ǵ, th́ chỉ sợ rằng trái đạo lư cũ của ḿnh.

Đạo lư cũ của ḿnh là thế nào có ai biết đâu? Con khóc cha mà cúng phải t́m trong Thọ mai gia lễ hay là Văn công gia lễ, xem ngày xưa ở bên Tàu các ông ấy khóc cha ra làm sao, th́ cứ thế mà khóc.

Gián hoặc (2) trong hai cách có điều ǵ khác nhau th́ cũng biết vậy, lúc túng việc th́ vớ được quyển nào theo quyển ấy. Gọi là cho nó theo một lệ nào đó, th́ là nhà văn phép.

Trong cả các tṛ chơi, như hát tuồng, hát chèo cũng hay bắt chước những cách vô lư.

Tấn tuồng th́ lấy trong các sự tích của Tàu, mà lúc ra hát th́ quên cả đến thời đến xứ (3). Cứ nhân chỗ nào hát được mấy câu nam th́ nam (4) cho mấy câu. Chỗ nào có dịp khôi hài th́ khôi hài. Thấy người xem có mấy người dễ cười, th́ làm măi.

(1) cũng tức là cải cách.
(2) thỉnh thoảng, giá như.
(3) thời ở đây tức niên đại thời gian, xứ tức hoàn cảnh không gian.
(4) nam: vốn được hiểu là những ǵ mang tính cách thuần Việt. Đọc chệch thành nôm. Chữ nam thứ hai th́ dùng như một động từ.


Nguyễn Văn Vĩnh

Tật huyền hồ sáo hủ, Đông dương tạp chí, 1913


9- Học không biết cách

Về đạo cương thường cứ nói rằng ta thâm nhiễm (1) của Tàu nhiều lắm rồi, nhưng tôi xét ra chưa có điều ǵ gọi là thâm nhiễm cả.

Trong hết cả số người theo Nho học th́ hoạ là có mấy ông vào bực giỏi, hiểu biết được đạo Khổng Mạnh. C̣n những bực nhoàng nhoàng th́ thường cứ thấy người ta học cũng học, học cho thuộc cách mà thôi, chứ không có định trong bụng rằng theo những điều nào, kháp (2) đạo ấy vào tính t́nh riêng của người nước ḿnh nó ra sao...

Vua Gia Long bỏ luật Hồng Đức (3) đi, mà làm ra cả một pho luật mới chép tuốt cả của Tàu, cả từ điều nước ḿnh có, cho đến những điều ḿnh không có, cũng bắt chước. Thành ra luật pháp cũng hồ đồ. Cương thường đạo lư toàn là giả dối hết cả, không có điều ǵ là có kinh có điển.

(1) ảnh hưởng sâu sắc.
(2) tức khớp, ghép lại cho khít, cho phù hợp.
(3) bộ luật cổ của nước ta có từ thời Lê, tham khảo nhiều từ bộ luật của đời Đường.


Nguyễn Văn Vĩnh

Đông dương tạp chí, 1913


10- Học đ̣i vặt vănh, bỏ qua chuyện lớn

Quái lạ cho người đời, hễ ai bảo cải lương lối nhà cửa ở, hay là cải lương ách ăn mặc bắt chước theo lối Âu Tây, thời đua nhau như vịt; c̣n nhỡ ai khuyên bảo nên cải lương những thói xấu nết hư -- chốn hương thôn không nên tranh giành kiện tụng nhau, ở với bè bạn thời phải giữ ḷng trung tín -- thời dẫu nói rát cổ bỏng họng cũng chỉ lờ đi, chớ không thèm nghe.

Nguyễn Bá Học

Di ngôn, do Nguyễn Bá Trác thuật, Nam Phong, 1921


11- Nặng tính hiếu kỳ

Cái tính hiếu kỳ là cái bệnh chung trong lối học của ta, xưa kia học chữ Tàu, đọc sách Tàu, lâu dần quá mê chuộng mà khinh rẻ những cái của ḿnh.

Cái ǵ của Tàu cũng cho là hơn mà chịu khó nghiên cứu, cái ǵ của ḿnh cũng cho là dở là kém không thèm nh́n tới.

Thành ra núi sông đ́nh miếu nước Tàu th́ biết mà núi sông đ́nh miếu nước ḿnh thời không hay; danh lam thắng tích bên Tàu th́ rơ mà danh lam thắng tích nước ḿnh th́ không tường; lịch sử địa dư nước Tàu th́ thiệp liệp (1), mà lịch sử địa dư nước ḿnh thời mịt mù; phong tục nhân vật nước Tàu thời tường tất mà phong tục nhân vật nước ḿnh thời tối tăm.

Mà có phải ḿnh thiếu ǵ cái đẹp cái hay, cái đáng ngắm …

(1) cũng có hiểu ít nhiều.


Dương Quảng Hàm

Học sao cho phải đường, Hữu thanh, 1921


12- Không có can đảm là ḿnh

Ông Dorgelès trong quyển Con đường cái quan có nói đến thói hay bắt chước của người ḿnh. Đại khái ông nói rằng:

“Ngày xưa người Tàu sang cai trị An Nam, người An Nam đều nhất nhất theo Tàu cả. Nay người Pháp sang bảo hộ mới được gần một trăm năm mà nhà cửa đă theo Tây thời rất dễ dàng, mà nói đến tiếng An Nam thời khô khan, h́nh như phải dịch tiếng ḿnh ra tiếng nước ngoài.
... Khoa học có nói rằng giống thằn lằn hễ bám vào cây nào th́ lâu dần sẽ giống da cây ấy. Ở bên An Nam này thời không thế, thằn lằn không đổi màu da mà chính cây đổi màu da để lấy màu da thằn lằn.”

Câu nói đau đớn thay mà xét người ta nói cũng phải.

Người viết văn phải có can đảm mà dịch những chữ nước ngoài ra. Mới đầu có hơi ngang tai, sau dần rồi cũng nghe được. Cụ Nguyễn Du không can đảm sao dịch nổi chữ tang thương ra chữ bể dâu, chữ thiết diện ra chữ mặt sắt (1)...

Mà cũng lạ thay cho người ḿnh không suy xét kỹ: Người Tàu nói chữ vân cẩu tang thương có khác ǵ chữ mây chó chữ bể dâu không. Ấy thế mà giá ḿnh nói “Bức tranh mây chó vẽ người bể dâu” (2) tất phần nhiều người cho là mách qué!

Người Tàu trước kia làm ǵ có những tiếng cộng hoà, cách mạng, cá nhân, vật lư học, kỷ hà học (3)... V́ ḷng sốt sắng làm cho tiếng nước nhà giàu thêm lên, nên họ không ngại khó, rồi mới đặt ra được cái tiếng ấy.

Người ḿnh th́ không thế. Muốn dịch một chữ Pháp hay chữ Anh ra tiếng nước nhà mà không dịch nổi, th́ cứ việc mở ngay tự vị (4) Tàu ra, trong ấy đă sẵn sàng cả rồi. Dù người Tàu có dịch sai chăng nữa cũng mặc cứ cắm đầu cắm cổ mà chép, ai biết đến đó mà lo.

(1) Hai câu nguyên văn trong Truyện Kiều: Trải qua một cuộc bể dâu và Lạ cho mặt sắt cũng ngây v́ t́nh.
(2) Một câu trong Cung oán ngâm khúc: Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương .
(3) Tức h́nh học.
(4) Tức từ điển.


Nguyễn Duy Thanh

Muốn cho tiếng An Nam giàu, Phụ nữ tân văn, 1929


13- Bắt chước không phải lối

Tính bắt chước vốn là tính tự nhiên của loài người, dẫu ở nước nào cũng thế cả. Nhưng giá ta có sẵn cái tinh thần tốt rồi chỉ bắt chước lấy những điều có bổ ích thêm cho tinh thần ấy th́ thật là hay lắm. Chỉ hiềm v́ ḿnh để cái tinh thần của ḿnh hư hỏng đi, mà lại mong bắt chước sự hành động của người ta th́ sự bắt chước ấy lại làm cho ḿnh dở hơn nữa.

V́ đă gọi bắt chước là chỉ bắt chước được cái h́nh hài bề ngoài mà thôi c̣n cái tinh thần ở trong, phi(1) lâu ngày nhiễm (2) lấy được mà hoá (3) đi th́ khó ḷng mà bắt chước được. Thành thử bao nhiêu những sự bắt chước của ḿnh chỉ là làm loạn cả tính t́nh tư tưởng và phong tục của ḿnh.

Có lắm người vọng tưởng (4) rằng ḿnh cố bắt chước được người ngoài là ḿnh làm điều có ích cho sự tiến hoá của ṇi giống. Không ngờ rằng sự bắt chước vội vàng quá lại thành cái độc gây ra các thứ bệnh cho xă hội. Mà sự lầm lỗi ấy chỉ mỗi ngày một thêm ra chứ không bớt đi được.

(1) không phải.
(2) thâm nhập.
(3) thay đổi. Từ điển Hán Việt của Thiều Chửu ghi: phàm vật này mất đi mà vật kia sinh ra gọi là hoá.
(4) nghĩ lầm.


Trần Trọng Kim

Nho giáo, 1930


14- Óc sùng ngoại nặng nề

Anh thợ vẽ cầm lấy cái bút là vẽ ngay phong cảnh Cô tô thành ngoại Hàn Sơn tự; thầy đồ cầm đến cái bút là tả ngay lịch sử Hán Cao Tổ Trương Lương Hàn Tín; anh phường tuồng ra tṛ là diễn ngay tấn Lưu Bị Quan Vũ Trương Phi.

Thổ sản thổ hoá (1) mà hễ cái ǵ tồi th́ cho một tiếng “nam “vào để giễu, như cái áo tơi gọi là áo cừu nam sột soạt, anh chàng dở người mà hay bàn thời thế họ gọi là Gia Cát nam. Cái ǵ tốt th́ cho một tiếng “tàu “vào để khen, như măng khô gọi là măng tàu.

Ấy cũng v́ tư tưởng đă thiên di (2) như thế mà những nhà chế tạo nội hoá rất khốn khổ, đồ tốt không bán được phải thất nghiệp, mà những đồ thô bỉ tầm thường th́ may c̣n ngoi ngóp sống để kiếm ăn với những người quê mùa nghèo khó.

(1) hàng trong nước làm ra.
(2) biến chuyển.


Nguyễn Trọng Thuật

Điều đ́nh cái án quốc học, Nam Phong, 1931


15- Khi học hỏi người, thường thiếu tự tin

Cách học muốn cho bằng người th́ phải biến hoá khác đi. Nay cứ toàn mô phỏng, thấy không thể theo cho bằng được, bèn sinh ḷng tự tiện (1), là ḿnh tự khinh cái tài của ḿnh; tự tiện quá rồi tự khí (2) tự bỏ cái tài của ḿnh, cho ḿnh là đồ bỏ.

Mà đồ bỏ thật, v́ học không có cái ǵ dùng được như mẫu của người.

Cũng v́ thế mà bao nhiêu cái hay không c̣n ǵ nữa.

Trước khi v́ học thuật nước nhà mà hy vọng, ta phải hết sức từ bỏ cái căn bệnh cẩu thả, cái tính tự tiện tự khí. Không th́ về xă hội lại cứ lười biếng a dua không suy xét lựa chọn, không có cái tinh thần tự giác tự tin. Về kẻ học giả lại cứ tham cận lợi (3), nhai văn nuốt chữ, lấy học đường của nước văn minh làm con đường tắt hiển vinh, học đến bao giờ cũng chung vô sở đắc (4).

(1) tự tiện đây là tự coi rẻ ḿnh coi ḿnh là hèn; khác với tự tiện có nghĩa làm theo ư thích hiện nay hay dùng.
(2) tự làm hỏng ḿnh.
(3) lợi ích trước mắt.
(4) cuối cùng vẫn không có ǵ là của riêng ḿnh.


Nguyễn Trọng Thuật

Điều đ́nh cái án quốc học, 1931


16- Chỉ biết học cái bề ngoài

Người ḿnh vốn có cái thiên tính dễ đồng hoá, nghĩa là có tư cách(1), dễ am hiểu dễ thu nạp lấy những ǵ khác lạ với ḿnh, dễ đem những điều hay điều dở của người ngoài mà hoá làm của ḿnh.

Nhưng cái tài đồng hoá đó thường thường chỉ là cái khoé tinh (2), biết xem xét và bắt chước của người, phảng phất ở bề ngoài, chứ không thấu triệt được đến chỗ căn để (3), chỗ tinh tuư.

Tỉ như thợ An Nam th́ phỏng chép tài lắm; những h́nh dáng kỳ đến đâu, những kiểu cách lạ đến đâu, họ bắt chước cũng được như hệt cả.

Cái cách đồng hoá dễ dàng thô thiển đó thiết tưởng không phải là cái tính tốt.

Như học tṛ ta học rất mau, nhớ cũng rất mau, nhưng chưa chắc đă hiểu được thấu, đă hoá được hẳn những cái người ta dạy ḿnh, và chưa chắc cái học tiếp thu được dễ dàng như vậy nó đă làm cho óc được khôn ra, người được chín ra chút nào.

Có những người mặc th́ mặc theo đúng mốt tối tân ở Paris, nói năng ba hoa đi đứng đường đột; bề ngoài như vậy mà bề trong nghị luận mơ hồ, tư tưởng lộn xộn, không có thống hệ (4), không biết bắt chước lấy cái lối nói năng găy gọn, biện lẽ phân minh như người Tây phương.

(1) nghĩa cũ: tài lực tŕnh độ khả năng.
(2) mánh khóe ranh ma.
(3) gốc rễ.
(4) ngày nay hay nói ngược lại: hệ thống.


Phạm Quỳnh

Giải nghĩa đồng hoá, Nam Phong, 1931


17- Không có th́ giờ lo đến văn hoá, đành đi vay mượn

Cả cuộc lịch sử của nước Nam là một cuộc chiến đấu vô hồi vô hạn đối với người Tàu hoặc bằng vơ lực, hoặc bằng ngoại giao, hằng ngày chỉ nơm nớp sợ bị nội thuộc lần nữa. Cái công của các tiên dân ta chống giữ cho non sông đất nước nhà, can đảm vô cùng, kiên nhẫn vô cùng, thật đáng cảm phục.

Nhưng cả tinh lực trong nước đều chuyên chú về một việc cạnh tranh để sinh tồn đó, cạnh tranh với một kẻ cường lân (1) hằng ngày nó đàn áp, để cố sinh tồn cho ra một nước độc lập, c̣n có th́ giờ đâu, c̣n có dư sức đâu mà nghĩ đến việc khác nữa.

Cái quan niệm quốc gia bị nguy hiểm luôn nên thường lo sợ luôn chiếm mất cả tâm tư trí lự, không c̣n để thừa chỗ cho những quan niệm khác về văn hoá về mỹ thuật.

Nói riêng về học thuật th́ đă sẵn cái học của Tàu đó, tiêm nhiễm vào sâu từ thuở mới thành dân thành nước, không thể tưởng tượng được rằng ngoài sách vở của thánh hiền c̣n có nghĩa lư (2) ǵ khác.

(1) kẻ hàng xóm mạnh.
(2) cái lư thuyết phải theo.


Phạm Quỳnh

Bàn về quốc học, 1931


18- Tâm lư ỷ lại, chịu làm học tṛ suốt đời

Địa lư lịch sử, chính trị đều như hiệp sức nhau lại mà gây cho nước ta một cái t́nh thế rất bất lợi cho sự học vấn tư tưởng. Bao nhiêu những người khá trong nước đều bị cái t́nh thế ấy nó áp bách trong mấy mươi đời nên dần dần lập thành một cái tâm lư riêng, là cái tâm lư ỷ lại vào người chứ không dám tự lập một ḿnh; trong việc học vấn th́ cái tâm lư ấy là tâm lư làm học tṛ suốt đời.

Nước ta ở ngay cạnh nách nước Tàu, từ hồi ấu trĩ cho đến lúc trưởng thành đều nấp bóng nước Tàu mà sinh trưởng, khác nào như một cái cây nhỏ mọc bên một cái cây lớn, bị nó “ cớm “ không thể nào nẩy nở lên được.


Phạm Quỳnh

Bàn về quốc học, 1931


19- Học người cũng không xong

Phàm phóng chép (1) của người chỉ phóng chép được những cái thô thiển trước, c̣n đến cái tinh tuư th́ phải công phu lắm mới nhập diệu (2) được.

Thử xét trong những kẻ tự xưng là hạng tân tiến (3), mấy người đă học được đến nơi đến chốn? Mấy người có thể đối đáp nghị luận với tây, nói những chuyện văn chương mỹ thuật, chính trị triết học mà người ta phải chịu phải phục? Hay là phần nhiều chỉ mới học mót được mấy câu văn sáo đă đem ra mà huyễn diệu (4) đồng bào?

Ấy là không nói những kẻ học chữ tây cũng c̣n chửa thông, nói một câu không khỏi sai mẹo, mà cũng làm ra mặt thông thạo các lối văn minh mới, nhất thiết tự xưng là duy tân cả, coi văn hoá cũ của nước nhà như cỏ rác hết.

Tưởng học được của người những ǵ hoá ra chỉ học được những thói tự do rởm, b́nh đẳng xằng, những cách du đăng phóng túng với cái tính khinh bạc ngạo mạn mà thôi.

Lắm lúc trông thấy cái kết quả bất lương đó mà ngờ rằng nếu học tây mà đến thế th́ thà không học nữa c̣n hơn.

Cái học kia làm cho người ta nước giàu dân mạnh của khéo người khôn, có đâu lại tạo ra những cái quái vật như vậy?!

Hay ḿnh như cái đất xấu, hạt giống tốt trồng vào rồi mọc lên cũng thành ra cằn cọc?

(1) bắt chước.
(2) đi tới cái thần khí sâu xa của sự việc.
(3) tức hạng hướng sự học sang Tây phương, hồi đầu thế kỷ XX
(4) khoe khoang (với ai đó).



Phạm Quỳnh

Phong hoá suy đồi, Nam Phong, 1932


20- Chưa biết trở thành chính ḿnh

Tôi không nhớ vị giáo sư Pháp nào, ở lâu năm bên ta, đă nói: “Những thanh niên Việt Nam đào tạo ở trường học mới, không có một tinh thần sáng tạo chắc chắn.”

Lời b́nh phẩm có vẻ vội vàng gắt gao, nhưng không phải là không có một phần sự thực.

V́ sự thực cái bệnh ỷ lại là bệnh của ta và đă ăn sâu vào trong xương tuỷ người nước ta, cơ hồ không gột rửa được nữa.

Không phải bây giờ mà từ bao giờ, không phải ở trong văn chương mà ở khắp các địa hạt, người Việt Nam đă tỏ ra ḿnh là một giống người sống một cách lười biếng và cẩu thả (...). Cẩu thả và biếng nhác trong sự ăn, sự mặc, sự ở, nhất là trong sự phô diễn tư tưởng.

Tự ta, ta không hề cố gắng và tạo tác ra một cái ǵ hoàn toàn của ta; ta chỉ muốn hưởng thụ những của sẵn và cam tâm làm kiếp con ve của thơ ngụ ngôn (1).

Ta đă vay mượn của người hàng xóm từ một điệu thơ nhỏ nhặt đến một đạo lư cao xa. Hồi xưa kia chúng ta là những người Tàu, gần đây chúng ta là những người Tây, chưa có một lúc nào chúng ta là những người Việt Nam cả.

(1) ư muốn nói vui chơi ca hát, không biết tính xa, và sẵn sàng vay mượn để sống qua ngày. Lấy tích từ bài thơ ngụ ngôn của La Fontaine Con ve và con kiến, bản dịch của Nguyễn Văn Vĩnh.

Lưu Trọng Lư

Một nền văn chương Việt Nam, Tao đàn 1939


21- Hợm hĩnh quá đáng

Một vài ông vua nước Nam đă làm cho thần dân của các ngài tưởng lầm rằng văn học nước ḿnh cũng ngang hàng với Trung quốc. Sự thác giác (1) ấy làm hại cho quốc dân từ lâu nay, cái hại chẳng phải nhỏ.

Lê Thánh Tôn phê b́nh hai câu thơ của Thân Nhân Trung quan đại học sĩ tại triều ḿnh Quỳnh đảo mộng tàn xuân vạn cảnh - Hàn giang thi lạc dạ tam canh hợm hĩnh cho rằng dù Lư Bạch, Đỗ Phủ, Âu Dương Tu, Tô Thức (2)… cũng vị tất đă nghĩ được ra.

Gần này người ta c̣n truyền tụng hai câu thơ phê b́nh thi văn bản triều (3): Văn như Siêu Quát vô Tiền Hán -- Thi đáo Tùng Tuy thất Thịnh Đường.

Văn học chữ Hán đến triều Nguyễn đáng gọi là thịnh hơn các triều khác; nhưng nếu bảo vượt qua cả Hán Đường th́ quá lố!

Những lời tự khoe ấy cần phải cải chánh.

(1) lầm tưởng.
(2) các thi hào nổi tiếng trong lịch sử văn học Trung quốc.
(3) tức triều Nguyễn.


Phan Khôi

Khái luận về văn học chữ Hán ở nước ta, Tao đàn, 1939


22- Tŕ trệ và bất lực

Bị ư thức hệ nho giáo bảo thủ lung lạc, bị nguỵ thuyết của bọn Tống nho đưa lạc nẻo, bị chế độ thi cử chi phối, đẳng cấp nho sĩ Việt Nam không c̣n một chút hoạt lực (1) nào, không c̣n được một tính cách cấp tiến nào nữa.

Bởi vậy họ đă chống tiến hoá chống cải cách.

Phụ hoạ với triều đ́nh, họ đă lấy cái học bă giả (2) của Tống nho dựng một bức trường thành ngăn các trào lưu triết học khác không cho tràn tới địa hạt tri thức do họ giữ đặc quyền.

Thiếu độc lập về tư tưởng, hoàn toàn phục tùng cổ nhân Trung Hoa về cả mặt t́nh cảm, quá câu nệ về h́nh thức thơ Tàu, -- đẳng cấp nho sĩ Việt nam chỉ sản xuất ra được những lối thơ nghèo nàn. Nhiều tập thơ mài giũa công phu nhưng không chút sinh khí.

Qua ngay h́nh thức của thơ, ta cũng thấy rơ tinh thần bảo thủ của đẳng cấp nho sĩ, và sự bất lực của đẳng cấp này trong mọi công cuộc sáng tạo xă hội có tính chất cấp tiến.

(1) sức sống.
(2) điều ai cũng biết.


Lương Đức Thiệp

Việt Nam tiến hoá sử, 1944


23- Thoả măn với việc mô phỏng bắt chước

Vô luận là vấn đề ǵ, về quốc kế hay dân sinh cũng như về luân lư hay triết lư, kẻ sĩ nước ta đều thấy các thánh hiền Trung quốc giải quyết sẵn cho ḿnh rồi, cái công phu của ḿnh chỉ là thuật lại để thực hành cho xứng đáng chứ không cần phải sửa chữa thêm bớt chút ǵ.

Trái lại cái ǵ của Trung quốc có vẻ vĩ đại hay cao siêu quá, th́ chúng ta lại phải hăm lại cô lại cho vừa với kích thước khuôn khổ của chúng ta.

Bởi thế chính trong thời kỳ toàn thịnh của nho học nước ta, người ta thấy có những nhà nho kinh luân như Tô Hiến Thành, nhà nho anh hùng như Trần Quốc Tuấn, nhà nho cao khiết như Chu An, nhà nho khẳng khái như Nguyễn Trăi, mà tuyệt nhiên vẫn không thấy một nhà tư tưởng một nhà triết học nào.

Chúng ta chỉ có những nhà nho lao tâm khổ tứ để bắt chước thánh hiền mà cư xử và hành động cho hợp với đạo lư chứ không có nhà nho nào dám hoài nghi bất măn với đạo lư xưa mà băn khoăn khao khát đi t́m đạo lư mới.

Đào Duy Anh

Việt nam văn hóa sử đại cương (*) 1950

(*) Đây là bộ sách Đào Duy Anh viết ở Thanh Hóa những năm kháng chiến chông Pháp. Không phải Việt nam văn hóa sử cương 1938.



24- Nền văn hoá của kẻ yếu

H́nh như sống dưới cái bóng của cái khối văn hoá Trung quốc, sừng sững ở bên ḿnh như cả núi Thái Sơn, văn hoá chúng ta chỉ cố sức để man diên (1) ở trên mặt đất chứ không có cái khuynh hướng trổ vọt lên trời.

Để sống c̣n, chúng ta chỉ cốt bám chặt lấy đất như bám lấy cái nguồn sinh khí.

Cho nên chúng ta không có cái vinh dự là có những tổ tiên chọc trời khuấy nước, làm chấn động thế giới bằng những tư tưởng hay hành động, nhưng chúng ta lại đă may mắn có được những tổ tiên cần cù, kiên nhẫn biết sống thiết thực và biết tổ chức cuộc sống một cách thích đáng để đối phó với vận mệnh khắc nghiệt của ḿnh.

Cái giá trị tranh đấu chúng ta nhận thấy trong cái tính chất thiết thực ấy lại tuồng như chỉ là tiêu cực.

Ngay trong văn hoá b́nh dân, cái văn hoá phát triển ở ngoài phạm vi ảnh hưởng trực tiếp của Hán hoá, tuy có lộ rơ cái tinh thần chống đối luân lư lễ giáo của nhà nho, thế mà cũng chỉ là sự chống đối của kẻ yếu.

Có những người sau khi làm tṛn phận sự một người quân tử ở đời th́ rũ sạch nợ trần đi t́m nhàn hạ ở nơi thôn dă, hay có người bất b́nh với thời thế khiến ḿnh không thể làm tṛn phận sự được mà đi t́m an ủi ở sơn lâm.

Nhưng thảy đều là những người chỉ cầu tự nhiên cấp cho những thú thanh cao để di dưỡng tính t́nh mệt mỏi, chứ không ai dám đem tâm trí mà t́m ṭi mà tra hỏi tự nhiên.

(1) ḅ lan như cây cỏ.


Đào Duy Anh

Việt Nam văn hoá sử đại cương, 1950



Theo Vương Trí Nhàn
(Nguồn : http://vuongtrinhan.blogspot.com/2011/09/ta-nguoi.html)


Trần Văn Giang (Sưu Tầm)
MĐC K68

Văn Hoá & Phong Tục MacDinhChiReunion.net / Văn Hoá & Phong Tục / Ta và Người - Theo Vương Trí Nhàn Top

Your Reply Click this icon to move up to the quoted message

 

 ?
Only registered users are allowed to post here. Please, enter your username/password details upon posting a message, or register first.
 
  MacDinhChiReunion.net Powered by Forum Software miniBB ®