· Forums · Reply · Search · Statistics ·
Văn Hoá & Phong Tục MacDinhChiReunion.net / Văn Hoá & Phong Tục /

Nói lái... - Nguyễn Văn Hiệp

 #1 · Posted: 21 Dec 2012 11:49 · Edited by: vgtran 
vgtran
Moderator
NÓI LÁI TRONG NGÔN NGỮ VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM







Theo định nghiă chung chung của một số nhà Ngôn ngữ học th́ Nói lái là nói bằng cách giao hoán âm đầu vần và thanh điệu hoặc trật tự của hai âm tiết để tạo thành nghĩa khác hẳn và cho rằng đây là một trong những đặc trưng của tiếng Việt, nhằm mục đích đố chữ, bông đùa, chơi chữ hay châm biếm. Thí dụ như “lộng kiếng” nói lái thành “liệng cống” hay “đầu tiên” thành “tiền đâu,” “đơn giản” thành “đang giỡn”…

Có người c̣n cho rằng Nói lái là một đặc điểm độc đáo của tiếng Việt mà các ngôn ngữ khác không có, khi nói lái người ta phải chọn một nhóm hai hoặc ba tiếng rồi hoán vị các phụ âm hoặc các thanh của những tiếng đó cho nhau. Chẳng hạn như “Vũ như Cẩn” thành “vẫn như cũ” hay “Nguyễn y Vân” thành “vẫn y nguyên” hoặc “bảng đỏ sao vàng” thành “bỏ Đảng sang giàu”…

Lại có người giải thích: Nói lái là cách đánh tráo vần, thanh điệu... giữa hai hoặc ba tiếng với nhau, nó không rườm rà không phức tạp mà rất đơn giản dễ vận dụng để tạo thêm nghĩa mới phù hợp với mục đích giao tiếp và cho rằng nếu không có những cách nói lái này, quá tŕnh giao tiếp sẽ kém sinh động hơn, đơn điệu hơn nhưng tựu chung, khi nói lái, người ta tránh không nói thẳng chữ muốn nói; mà người nghe v́ không tinh ư, nhất thời không nhận ra nên xảy ra nhiều giai thoại vô cùng lư thú.

Như chúng ta đă biết, một chữ gồm hai phần: phụ âm và âm. Chẳng hạn như chữ thung gồm phụ âm th và âm ung. Chúng ta lại có thêm sáu thanh: sắc, huyền, hỏi, ngă, nặng và không dấu tạo tiếng Việt thành giàu âm sắc, chỉ cần khác dấu, chữ được phát âm khác nhau: thung (thung dung), thúng (cái thúng), thùng (cái thùng), thụng (áo thụng), thủng (lỗ thủng) và tất nhiên có nghĩa khác nhau, và đây cũng là nét độc đáo của ngôn ngữ Việt, nên người nước ngoài bảo người Việt nói chuyện nghe giống như hát vậy. Thêm vào đó, tiếng Việt vốn đơn âm nên có thể Nói lái dễ dàng mà vẫn có nghiă: Cái biệt thự nầy bự thiệt! Bí mật coi chừng bị bật mí hoặc kháng chiến lâu ngày sẽ khiến chán hay muốn đầu tư nhưng không biết từ đâu, và đă tháo giầy nhưng chưa thấy giàu! Theo con Hương v́ thương con heo cô ấy…

Đặc biệt, đối với những người lớn tuổi hay trưởng thành ở Việt Nam chẳng có ai là không biết cách nói lái, tùy theo gốc gác hoặc sinh hoạt ở Bắc, Trung hay Nam mà cách nói lái có khác nhau đôi chút.

- Nói Lái theo cách ngoài Bắc: người miền Bắc đổi chỗ cho hai chữ, đồng thời đổi luôn hai dấu (nghĩa là đổi âm sắc).

Thí dụ như chữ tượng lo nói lái thành lọ tương (lo đổi chỗ cho tượng, lấy dấu nặng thành lọ, tượng đổi chỗ cho lo, mất dấu nặng thành tương).

Chữ đấu tranh nói lái lại là tránh đâu (tranh đổi chỗ cho đấu, lấy dấu sắc của đấu thành tránh, đấu đổi chỗ cho tranh, mang dấu của tranh v́ không dấu nên thành đâu).

- Nói lái theo kiểu trong Nam: theo cách nói lái trong Nam, âm trong hai chữ đổi chỗ cho nhau, phụ âm giữ nguyên vị trí.

Thí dụ như chữ cá đối nói lái thành cối đá (phụ âm c ghép với âm ối của đối thành cối, và phụ âm đ ghép với âm á của cá thành đá). Và cứ như vậy mà cờ Tây thành Cầy tơ, Thầy tu thành thù Tây, hiện đại thành hại điện, Thứ Lễ thành Thế Lữ, tṛ chơi thành trời cho…

Trong vài trường hợp người ta nói lái cho cả ba chữ, th́ chỉ hoán đổi hai chữ đầu và cuối nhưng giữ nguyên chữ giữa. Chẳng hạn như: “Trần bá Cương” thành “Trương bá Cần,” “Chín bến đ̣” thành “chó bến Đ́nh,” “Âu cái Đằng” thành “ăn cái đầu,” “Hương bên đèo” thành “Heo bên đường”…

Đôi khi người ta lại đổi chỗ hai phụ âm cho nhau để sau khi nói lái có nghĩa và dễ nghe hơn. Thí dụ chữ chiến binh thay v́ nói lái thành chinh biến cũng có thể nói thành chính biên. Do đó với hai chữ tranh đấu có người đă đùa mà nói rằng: tranh đấu th́ tránh đâu khỏi bị trâu đánh th́ thế nào cũng phải đấu tranh.

Cũng như trong trường hợp trên, những chữ trùng âm như nhân dân, lù đù, lật đật...không nói lái được.

Tuy nhiên, Nói lái là lối nói mà chỉ cảm nhận được chớ không công thức hóa được. Nếu nói lái mà đơn giản như đang giỡn (có thêm chữ g và dấu hỏi thành dấu ngă) th́ không thể áp dụng công thức nào vào đây cả.

Đặc biệt là người miền Nam thường phát âm phụ âm cuối không chính xác như c # t, n # ng, y # i, dấu hỏi đọc như dấu ngă. Chẳng hạn như chữ Cắt và Cắc, Đan và Đang, Thai và Thay, suy nghĩ và nghỉ ngợi… họ đều phát âm giống nhau, khó mà phân biệt. V́ vậy khi người miền Nam nói lái th́ rất dễ dàng, nhanh chóng do biến đổi bằng nhiều cách khác nhau nhưng khi viết ra thành chữ th́ nhiều khi không đúng vào đâu cả (tức là sai Chánh tả). Thí dụ như sao vàng nói lái thành sang giàu nhưng viết đúng theo âm luật là sang vào th́ không phải là ư của người muốn nói; bởi vậy, người ta nói nói lái chớ không ai nói viết lái. Tuy nhiên, có nhiều câu thơ, bài thơ không những nói lái mà c̣n viết lái rất tài t́nh, chúng tôi sẽ giới thiệu phần sau.

Sau đây, chúng tôi xin mời quư vị bước vào thế giới của ngôn ngữ Nói Lái qua các câu đố, câu ḥ, câu đối, giai thoại trong dân gian và cả những bài thơ mang tính cách Văn học Nghệ thuật hoặc đă có từ lâu trong nền Văn học Việt Nam. Dĩ nhiên, theo như ư kiến của Hoàng Lăo Tà trong bài “Ăn tục nói phét” th́ “môn nói lái rất thần sầu quỷ khiếp đa dạng, đa năng mà ngay trong thi ca kim cổ đều sử dụng. Lúc nào nói lái được là chớp ngay cơ hội. Và nói lái phải tục mới vui, mới cười được, chứ nói lái thông thường th́ chả có ǵ hấp dẫn”.

1/- Nói Lái trong Câu đố:

Cũng như Ca dao, Tục ngữ, Thành ngữ… Câu đố cũng là một h́nh thái của Văn học dân gian Việt Nam. Người ta sử dụng Câu đố trong các buổi họp mặt vui chơi hoặc trong lúc lao động chân tay để quên đi mệt nhọc hay thử tài trí giữa hai bên nam nữ. Những câu đố Nói lái thường rất dễ đáp nhưng v́ bất ngờ hay bị tṛng tréo chữ nghiă mà đôi khi không đáp được.

- Lăng quằng lịt quịt ... lăng quằng trứng, là cái ǵ? (Đáp là cái Lưng quần trắng).

- Lăng quằng lịt quịt ... lăng quằng rừng, là cái ǵ? (là cái Lưng quần rằn)

- Trong nhà chạy ra hỏi cái ǵ bán, là cái ǵ? (là cái giàn bí)

- Vừa đi vừa lủi, vừa mổ, là cái ǵ? (là cái lỗ mũi)

- Mẹ thương con, con gầy, là cái ǵ? (là cây g̣n)

- Trên trời rơi xuống cái mau co, là cái ǵ? (là cái mo cau)

- Cầm đục cất đục là cái ǵ? (là Cục đất)

- Ghe chài ch́m giữa biển đông,

Ván phên trôi hết cái cong nó c̣n’’ là cái ǵ? (là con c̣ng)

- Khoan mũi, khoan lái, khoan lai,

Ḅ la, ḅ liệt đố ai biết ǵ? (là củ khoai lang).

- Hít vào, hít ra, hít một là cái ǵ? (là hột mít)

- Cà vô, cà ra, cà nhột, là cái ǵ? (là cột nhà)

- Cúng trên núi, cúng mê, cúng mải là cái ǵ? (là cái mủng)

- Cú trong nhà cú ra, cú hăi là cái ǵ? (là cái hũ)

- May không chút nữa th́ lầm,
Cau dày không bẻ bẻ nhầm cau ranh, là cái ǵ? (là canh rau)...

- “Sáng nay đi hỏi chị Năm,
Có đi ra chợ chuộc dùm đôi bông” là cái ǵ? (là trái chùm ruột)

- Cái ǵ ở cạnh bờ sông,
Cái mui th́ nát cái cong th́ c̣n? (là con c̣ng )
- Cái ǵ bằng ngón chưn cái mà chai cứng, là ǵ? (là ngón
chưn cái)

- Khi đi cưa ngọn, khi về cũng cưa ngọn, là ǵ? (là con ngựa)

- Miệng bà Kư lớn, bà Kư banh
Tay ông Cai dài, ông Cai khoanh. Là cái ǵ? (là canh bí và canh khoai)

Ngoài ra, c̣n có câu đố về các con vật, câu đố đặt ra là từ hai con vật nầy khi Nói lái sẽ thành hai con vật khác, đă được giải đáp như sau:

- Con Cua con Rồng lái là Con Công con Rùa
Con Cáo con Sóc lái là con Cóc con Sáo.
Con Trai con Rắn lái là con Trăn con Rái.(cá)
Con C̣ con Báo lái là con Cáo con Ḅ
Con Sáo con Ḅ lái là con Ṣ con Báo
Con Sếu con Ngao lái là con Sáo con Nghêu ...
- con Sâu con Dế --> con dê con sấu
con Ngao con Sán --> con ngan con sáo
con Ong con Kiến --> con yến con công
con Ốc con Kiến --> con yến con cóc
con Trai con Rắn --> con trăn con rái
con Ốc con Nhện --> con ếch con nhộng
- Con SÁO nói với con B̉,
Có con S̉ BÁO: bên kia Hội chùa.
Con CÔNG nghe rũ con RÙA,
Con CUA thấy vậy, mới khua con RỒNG.
Cả bọn kết lại thật đông,
Con C̉, con SÓC cũng mong theo cùng.
CÓC, S̉ xúm lại đi chung…
- Cô Công nói với Cậu Rùa,
Rồng ở dưới đất, c̣n Cua trên trời.
Ốc gào Nhện hỡi, nhện ơi.
Ếch bơi phố núi, Nhộng chơi ao làng.
Gió chiều nhẹ thổi mênh mang,
Tao nhân mặc khách lang thang bên đường...

2/- Nói Lái trong Câu Ḥ đối đáp:

Ḥ đối đáp vốn là một loại h́nh thức dân ca phổ biến khắp ba miền đất nước. Nó thường xảy ra trên cánh đồng hay ḍng sông, nam và nữ thường ḥ đối đáp với nhau để xua đi nỗi mệt nhọc trong công việc. Điều đáng ngạc nhiên là họ có thể dễ dàng sáng tạo và ḥ đối đáp ngay tại chỗ. Những người này rất nhanh nhẹn và thông minh đến mức ngay cả những người có học đôi khi cũng phải khâm phục họ và đôi khi phải bỏ cuộc. Có nhiều cặp trai gái trở thành chồng vợ sau những cuộc ḥ nầy.

Những câu ḥ đối đáp thông thường th́ rất nhiều nhưng dùng cách nói lái để ḥ đối đáp th́ rất hiếm quư.

- Thông thường th́ bên con gái cất cao câu ḥ đối trước:

“Ḥ hơ… Con cá đối nằm trên cối đá,
Con mèo đuôi cụt nằm mút đuôi kèo.
Anh mà đối đặng… ơ… ờ
Ḥ hơ…Anh mà đối đặng, dẫu nghèo em cũng ưng.”

- Sau khi phân tách và t́m câu trả lời, bên con trai ḥ đáp:

“Ḥ hơ… Chim mỏ kiến(g) đậu trên miếng cỏ,
Chim vàng lông đáp dựa vồng lang.
Anh đà đối đặng ơ… ờ
Ḥ hơ…Anh đà đối đặng, hỏi nàng có ưng chưa?”

Và như thế, bên nầy đối, bên kia đáp cứ kéo dài không dứt cuộc tranh tài đầy lư thú của hai bên nam nữ để lại dân gian những câu ḥ Nói lái độc đáo đầy sáng tạo:

- Con sáo sậu chê cô xấu xạo,
Con chó què chân bị cái quần che.
- Con bé mập ú nhờ bà mụ ấp,
Thằng bé ốm tong vác cái ống tôm.
- Chiều chiều cụ Măo lên rừng cạo mũ,
Sáng sớm bà Hạc đi bán bạc hà.
- Cô nàng dâu Hứa đi mua dưa hấu,
Thằng rể bảnh trai ngồi cạnh băi tranh.
- Người mặc áo xanh chính là anh xáo, (anh Sáu)
Miếng thịt băm nát trong bụng bác Năm.
- Chàng trai sứt môi ngồi ăn xôi mứt,
Cô gái mồm to lặn lội ṃ tôm.
- Con cóc cái ngồi trên cái cốc,
Con cầy tơ đứng dưới cờ Tây.

Bên cạnh đó c̣n có những câu Nói lái mà đôi trai gái khéo léo gởi gắm t́nh cảm cho nhau mà người ngoài v́ vô t́nh không hiểu được. Trước hết, người con gái thố lộ:

- “Cam sành nhỏ lá thanh ương,
Ngọt mật thanh đường nhắm lớ, bớ anh!”

Cảm thương v́ “thương anh” mà “nhớ lắm” của nàng nên chàng hứa hẹn:

- “Thanh ương là tuổi mong chờ
Một mai nhái lặn chà quơ, quơ chà.”

(Có nghiă: Qua muốn “nhắn lại” với bậu là nếu “thương anh” mà bậu “chờ qua” th́ “qua chờ” bậu).

3/- Nói Lái trong câu đối:

Câu đối là cách chơi chữ và là một trong những thú tiêu khiển của người xưa. Người ta thường viết câu đối trong dịp Tết hay trong các lễ mừng thượng thọ, thăng quan tiến chức, đỗ đạt hay tân hôn, sinh nhật.... Người viết câu đối phải là người văn hay, chữ tốt và nhất là ư nghiă của câu đối phải phù hợp với trọng tâm của buỗi lễ. Cho nên, viết câu đối rất khó mà nói lái trong câu đố th́ lại càng khó hơn nữa. Vậy mà trong dân gian Việt Nam vẫn có nhiều câu đối nói lái.

Thảm thương cho cuộc sống thiếu thốn, đói nghèo của nghề giáo dưới chế độ Xă hội Chủ nghiă, người ta than thở qua bài “Buồn đời giáo-chức:”

Thảm kịch của thầy giáo, phải tháo giầy,
Tháo luôn cả ủng, thủng luôn cả áo.
Làm giáo chức, nên phải giứt cháo,
Thảo chương rồi, để được thưởng chao,
Lấy giáo án đem dán áo.

Cùng với một câu đối bất hủ như sau:

- Chiều ba mươi, thầy giáo tháo giày ra chợ bán
Sáng mùng một, giáo chức dứt cháo đón xuân sang.

Tuy vậy, vẫn c̣n một câu đối khác nghe chỉnh hơn:

- Thầy giáo…tháo giầy, tháo cả ủng, thủng cả áo, đem giáo án ra… dán áo.
Mèo con....c̣n meo, c̣n léo nhéo, kéo ḷn nḥn, ngậm xương cá về..ca xướng.

C̣n đây là câu đối Tết dành tặng cho những tên keo kiệt, coi trọng đồng tiền hơn bất cứ mọi thứ trên đời (xin nói lái từng cặp chữ th́ sẽ thấy):

- Thiên tường, tác biệt,
Hiền tạ, thu sương.

Ngoài ra, c̣n có những câu đối không dùng trong mục đích nào cả mà chỉ để thỏa măn tánh trào phúng và tài Nói lái của ḿnh:

- Kia mấy cây mía trên xe chú,
Có vài cái ṿ dưới nhà cô.
- Thầy giáo tháo giầy, vấy đất vất đấỵ
Thầy tu thù Tây, cầu đạo cạo đầu.
- Trai Thủ Đức năm canh thức đủ,
Gái Đồng Tranh sáu khắc đành trông.
- "Trai Thủ Đức năm canh thức đủ,
Gái G̣ Công sáu khắc gồng co".
- Gái Hóc Môn vừa hôn vừa móc,
Trai G̣ Công vừa gồng vừa co.
- Thầy giáo Bản Giốc, vừa bốc vừa giảng,
Tử tù Cổng Trời, bị cởi bị trồng.
- Con trai Bắc Ninh, vừa binh vừa nắc,
Con gái Hà Đông, hồng diện đa dâm.
- Đại học Suối Máu, sáu tháng muối cơm,
Giáo khu Thừa Thiên, cửa thiền thưa thớt.
- Dân nhậu Chu Lai, uống chai uống lu,
Người dân Đập Đá, bị đá bị đập.
- Rượu thuốc Bạch Hổ, uống bổ như hạch,
Con gái Đà Nẵng, tứ đẳng nơn nà.
- Nhà văn Nhật Tiến bảo học tiếng Nhật là tiện nhất.
Luật sư Đức Tiến không biết tiếng Đức nên tức điếng.
- Con cá rô cố ra khỏi rá cô!
Chú chó mực chực mó vào chơ mứt.
-“Vợ nuôi chó, chồng chén cầy; tứ đốm tam khoanh, cây c̣n hóa ra là nhà Tuất.
"Ngựi bảo heo, kẻ kêu lợn; ba bầy bảy mối, lớn lại thành đích thị họ Trư.”

C̣n về câu đối "Gái Củ Chi, chỉ cu, hỏi củ chi?" th́ có các câu:

- Trai Giồng dứa, trồng dừa giống, trên giồng dứa.
- Trai Láng Hạ, lạ háng người Láng Hạ.
- Trai Thành Đông, đồng thanh hét thành đồng.

Sau hết, có một người thích nói lái, tức cảnh sinh t́nh đưa ra câu đối sau đây, xin mời chư quư vị t́m cho câu đáp:

- "Xuân Cali lạnh lẽo, nghe gọi heo, gọi lợn, gọi chó, gọi cờ tây, chạnh thèm bát giả cầy..."

4/- Nói lái trong các giai thoại:

Giai thoại được hiểu là câu chuyện thú vị làm cho người nghe phải hào hứng, vui thích. Từ xưa, có rất nhiều giai thoại, đặc biệt là giai thoại trong văn chương th́ không những được người đời truyền tụng qua những cuộc trao đổi trong giới Văn gia, trí thức mà c̣n được ghi vào sách vở. Tuy nhiên, có những giai thoại Nói lái th́ ít người quan tâm, thỉnh thoảng họ cũng có nghe qua nhưng rồi bỏ, xem đó như là những câu chuyện dân gian. V́ vậy, những giai thoại nầy trở thành loại văn chương truyền khẩu, mặc ai muốn kể sao th́ kể, muốn thêm thắt thế nào cũng được miễn đáp ứng được sự cảm nhận của người nghe là được.

A)- Chuyện Đại phong:

Chuyện thế này: hai anh hề trên sân khấu tuồng ngoài Bắc, trong lúc diễu giúp vui, anh A đố anh B: Đại phong là ǵ?

- “Th́ đại là lớn, c̣n phong là gió, đại phong là gió lớn,” anh B giải thích.

Anh A bảo:“ Đại phong có nghiă là lọ tương đấy. Nầy nhé, Đại phong là gió lớn, mà gió lớn th́ chùa đổ, chùa đổ thi tượng (Phật) lo, tượng lo là lọ tương.

Có người c̣n cho rằng chuyện Đại phong xuất xứ từ Trạng Quỳnh. Trạng Quỳnh tên thật là Nguyễn Quỳnh, sinh quán Nghệ An dưới thời Lê Trung Hưng (1530-1540), là người hay chữ, thông minh xuất chúng, với bản tính nói ngông hay châm chọc vua chúa quan quyền thời bấy giờ. Một hôm Quỳnh dâng lên chúa Trịnh một lọ thức ăn khoác lác là một món ăn tuyệt hảo, ngoài có đề hai chữ Đại Phong. Sau khi ăn thử, chúa Trịnh v́ bị Trạng lừa bỏ đói, ăn rất ngon miệng nên cật vấn về món ăn lạ, th́ Trạng giải thích rằng Đại Phong là gió to, gió to th́ tượng lo, tượng lo nói lái là lọ tương.

Ngoài ra, Trạng Quỳnh c̣n có một câu nói lái khác mà người ta cho rằng để chọc bà Đoàn thị Điểm (?)

- Nắng cực lúa mất mùa, đứng đầu làng xin xỏ,
Nở ḷng nào chị chẳng cho.

B)- Chuyện Trạng Quỳnh - “đá bèo” và “ngọa sơn:”

Một bà Chúa có nhan sắc mà tính kiêu ngạo, đi ra chơi phố phường thấy ai trái ư là sai lính bắt đánh liền. Quỳnh lững thững đi chơi, gặp kiệu Chúa, thấy gần đấy có cái ao bèo, vội vàng chạy xuống cầu ao nhằm đám bèo mà đá tứ tung. Chúa biết Quỳnh, thấy chơi lẩn thẩn như thế mới hỏi:

- Ông làm ǵ đó?
Quỳnh ngẩng lên thưa:
- Tôi ở nhà buồn quá, ra ao đá bèo chơi ạ!

Chúa đỏ mặt tía tai, đánh kiệu bỏ đi.

Một buổi trưa nọ, Quỳnh định vào nội phủ thăm Chúa nhưng biết là Chúa đang ngon giấc ở dinh bà Chính cung, Quỳnh cụt hứng lui gót. Trên đường về, Quỳnh đề lên vách phủ hai chữ "Ngọa Sơn." Khi Chúa gọi vào hỏi, Quỳnh trả lời:

- Khải Chúa, "Ngọa Sơn" nghĩa là nằm ở trên núi, có thế thôi ạ! Tiện tay, thần viết chơi, chẳng có ǵ để Chúa bận tâm cả.
Sau đó, Chúa thấy hai chữ "Ngọa Sơn" xuất hiện la liệt trên các vách tường, cửa nhà ngoài phố... Chúa truyền gọi một người đến hỏi duyên cớ. Người kia run lẩy bẩy, thưa:

- Chúng con là kẻ hèn mọn dốt nát, đâu dám sính chữ. Việc này chẳng qua chỉ tại Trạng Quỳnh đấy ạ! Trạng Quỳnh có lần vào nội phủ, về mách với chúng con là Chúa đang bận "Ngọa Sơn,” rồi giải thích rằng: Ngọa là nằm, nằm lâu th́ phải ngủ, ngủ th́ phải ngáy. Sơn là núi, mà núi th́ phải có đèo. "Ngáy Đèo" nói lái lại là..., con không dám nói ra đâu. Không ngờ bọn trẻ con nghe lỏm được lời Trạng, buồn tay viết bậy bạ lung tung. Xin Chúa tha cho con!

Hiểu rơ đầu đuôi câu chuyện này là do Quỳnh, có làm lớn chuyện ra chỉ tổ thêm xấu hổ nên bỏ qua.

C)- Chuyện Đại điểm Quần thần:

Một giai thoại về Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm được lưu truyền ở miền Nam như sau: hồi Thủ Tướng Tâm c̣n là Quận Trưởng Cai Lậy (có biệt danh là Hùm Xám Cai Lậy) lúc ăn mừng tân gia, có người dâng lên quan bốn chữ đại tự Đại Điểm Quần Thần rất đẹp và giải thích Quần thần là người bề tôi, Đại điểm là điểm lớn, ư nói quan lớn là người bề tôi có vị trí to lớn trong quan trường. Quan lấy làm thích thú đem treo bức liễn trong pḥng khách. Ít lâu sau có người đến ngắm bức liễn, rồi xin quan lớn dẹp đi. Quan ngạc nhiên hỏi, người ấy giải thích: người viết liễn đă cố ư châm biếm quan lớn, mà quan không biết. Bốn chữ trên dịch từng chữ: Đại điểm là chấm to; Quần thần là bầy tôi. Đại Điểm Quần Thần là Chấm To Bầy Tôi nói lái lại là Chó Tâm Bồi Tây. Chẳng biết quan có t́m tác giả bốn chữ nói trên để trị tội hay chăng, nhưng có lẽ v́ không muốn làm lớn chuyện mà thêm xấu hổ, nên ỉm luôn.

D)- Trạng Tŕnh Nguyễn Bỉnh Khiêm nói lái:

Trước khi chết, Trạng Tŕnh (1491-1585, thời Lê Mạc) có làm một tấm bia căn dặn con cháu khi nào chết nên đem tấm bia nầy chôn trước mộ, tấm bia được khắc chữ bên trong nhưng sơn bít bên ngoài. Sau đó chừng 100 năm, cha con ông Khả đem ḅ tới đó cho ăn mà lại cột nhằm mộ bia của Trạng. Hôm đó nhằm lúc trưa nắng, v́ quá khát nước nên bầy ḅ đụng với nhau, chạy tán loạn làm gẫy tấm bia, sập xuống. Làng xă hay tin biết cha con ông Khả làm hư mồ mả của Trạng nên bắt về trị tội. Cha con ông Khả năn nỉ quá, xin cho đi vay bạc hỏi tiền làm lại tấm bia khác thường cho Trạng. Làng xă thấy tội nghiệp nên ưng thuận. Sau khi vay mượn và bán hết đồ đạc trong nhà th́ chỉ được có một quan tám, nhưng được bao nhiêu cũng phải tiến hành sửa chữa. Đến chừng đập bia ra vừa tróc lớp ô dước bên ngoài th́ thấy có hàng chữ như thế nầy:”Cha con thằng Khả làm ngă bia ta, Làng xă bắt đền tam quán”. Th́ ra tam quán nói lái thành quan tám, đúng như lời tiên tri của ông Trạng.

Đ)- Chuyện về ông Thủ Thiệm
: (theo “Thủ Thiệm Đất Quảng” của Hoàng Quốc)

Thủ Thiệm người xứ B́nh Định, xă An Hoà thuộc phủ Hà Đông sau đổi thành Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam. Ông sinh năm 1854 mất vào năm1920 tại quê nhà. Lúc nhỏ, Thủ Thiệm có tên là Nhơn, khi lớn lên đi học và đi thi, ông lấy tên chính thức là Thiệm. Theo phong tục xưa, Thủ sắc là người giữ các sắc phong của Vua ban cho làng, chức này thường được Hội đồng kỳ mục tín nhiệm giao cho các nhà Nho, hoặc ít ra cũng là người có chữ nghĩa thánh hiền ở trong làng đảm nhận. Có lẽ nhờ thông Hán học mà Thiệm được giao làm Thủ sắc của làng. Từ đó, người làng gọi ông là Thủ Thiệm, tức đem ghép chức Thủ sắc vào tên ông. Ông là người hoạt bát, nhanh nhẹn, thông minh, ứng đối tài t́nh nên có nhiều giai thoại để đời:

- Một đám cưới nọ tổ chức rất linh đ́nh, hơn nữa số lễ vật của khách đến chúc mừng cũng để bù đắp vào các khoản chi phí, đó là chưa nói đến trường hợp gia chủ được lăi, nếu có chủ tâm tính toán trước. Thủ Thiệm ghét cay ghét đắng cái thói này. Tương truyền có một chuyện như vầy: Khi đi dự đám cưới, Thủ Thiệm mua một tấm lụa, viết lên đó ba chữ Hán thật to:"Miêu Bất Tọa" làm quà tặng đám cưới. Trong tiệc rượu, nhiều người nhờ Thủ Thiệm giải thích mấy chữ đó. Thủ Thiệm chép miệng: - Chà có rứa mà mấy ông cũng hỏi! "Miêu" là mèo, "Bất" là không, "Tọa" là ngồi. "Miêu Bất Tọa" là mèo không ngồi, mà mèo không ngồi tức là mèo đứng. Các ông các bà mừng "Bách niên giai lăo,” "Bách niên hạnh phúc,” c̣n tui th́ "Mèo Đứng" cũng vậy mà thôi chứ có khác ǵ đâu. Nh́n thấy tấm lụa có chữ "Miêu Bất Tọa" treo trang trọng giữa pḥng chính, ai cũng bấm bụng cười thầm.
- Có cậu con trai học dốt, thi trượt nhưng người cha đă bỏ tiền mua chức cửu phẩm văn giai, mở tiệc đăi cả làng mừng con trai đỗ đạt. Mừng cháu có thành tích, Thủ Thiệm cho câu đối Nôm:

“Cha ở nhà đại du
Con đi thi đậu tru”

Câu đối Nôm dán trên cột nhà khiến chủ nhà bật ra tiếng chửi đổng, c̣n khách khứa tủm tỉm cười thầm.

- Trong ngày đám tang vợ, Ông đề trên lá phướn vợ chữ khuynh địa có nghĩa là méo đất, và khóc vợ, rồi kể lể thờ dài: "Lúc thiếu "cái nớ" th́ làm răng mà các d́ giúp tui được, phải không các d́?" khiến bà con cḥm xóm "lỡ khóc, lỡ cười" với ông chủ nhà trong lúc tang ma bối rối.

E)- “Méo trời và Méo đất:”

Có một ông thợ hớt tóc góa vợ nên đă quan hệ “già nhân nghĩa, non vợ chồng” với một bà góa chồng. Có hai câu thơ ông tự “vịnh” về mối quan hệ của chính ḿnh thực đáng ghi nhớ:

Yêu em từ độ méo trời,
Khi nào méo đất mới rời em ra (!)

Yêu từ thuở “méo trời” đă hay, nhưng công khai thừa nhận sẽ hết yêu khi “méo đất” dẫu có hơi ác nhưng cách dùng từ th́ quả thực tinh quái và thông minh hết chỗ chê.

G)- Bài thơ Tác hợp
: (theo “Quảng Nam Nói Lái” của Huỳnh ngọc Chiến)

Ở xứ Quảng Nam có ông Dương Quốc Thạnh, biệt hiệu Sơn Hồ, chuyên làm thơ nói lái theo thể Đường luật, đối nhau chan chát trong từng câu từng chữ. Có một cậu công nhân gốc Hội An làm việc ở Phú Ninh quan hệ với một cô thợ may ở địa phương mang bầu. Cậu về thú thực với gia đ́nh và xin cưới gấp nhưng ba mẹ không chịu. Ông lại là người quen biết cả hai bên nên nhà gái nhờ ông thuyết phục bên nhà trai. Cuối cùng đám cưới vẫn được diễn ra với cô dâu mang bụng bầu 6 tháng (!). Không khí nặng nề giữa hai họ được giải tỏa hoàn toàn khi ông, với tư cách chủ hôn, đọc bài thơ này và nhà trai thực sự vui vẻ khi tuyên bố nhận con dâu.

Ai bàn chi chuyện đă an bài,
Trai khiển đồng t́nh gái triển khai.
Cứ sợ cho nên thành cớ sự,
Mai than mốt thở lỡ mang thai.
Tính từ ngày tháng vương t́nh tứ,
Khai ổ bây giờ báo khổ ai.
Cưỡng chúng ông bà nghe cũng chướng,
Thôi đành để chúng được thành đôi!

Bài thơ quả thật vô cùng sâu sắc và lư thú. Chuyện đă rồi th́ thôi đừng bàn ra tán vô làm chi. Do chàng trai điều khiển nên cô gái mới phải ch́u theo nhưng lỗi là do cô đồng t́nh nên cũng không thể trách ai. V́ quan hệ lén lút nên mới xảy ra “cớ sự”. Bây giờ đă sắp đến ngày sinh nở rồi, sắp đến lúc “khai ổ” rồi mà đám cưới không thành th́ sẽ làm khổ cho cả hai bên nhà trai nhà gái lẫn hai người trong cuộc.

Thêm một chuyện khác là ở Quận Đại Lộc cũng thuộc Quảng Nam có anh Trần Hàn xấu trai, mặt th́ rỗ, lại thêm chột hết một mắt, nhưng anh ta hát hay nổi tiếng. Nhưng “Cao nhơn tắc hữu cao nhơn trị,” v́ khi anh xuống làng La Qua, quận Điện Bàn, gặp một cô gái hát chỉ hai câu mà không tài nào đối được, đành bỏ nghề hát, tuyệt tích giang hồ. Câu hát rằng:

Trần ai gặp lúc cơ hàn
Rổ đan mặt mốt, xuống ngàn đổi khoai.

Cái chữ khó của câu hát là chữ "Rổ" .Đan mặt mốt, nghĩa trắng là nghèo quá phải đan rổ tre long mốt để đựng khoai, nghĩa đen lại là mặt rỗ hoa mè lại đui một mắt (mặt mốt nói lái là một mắt).

H)- Tranh đấu bị trâu đánh:

Ở một cơ quan nọ (dĩ nhiên là cơ quan của Việt cộng) có hội nghị họp chống tham nhũng cửa quyền. Gần kết thúc cuộc họp có một chị công nhân cũ của nhà máy đ̣i đứng lên phát biểu. Chị vừa nói vừa khóc: “Chúng tôi cũng muốn đấu tranh đ̣i quyền lợi lắm, nhưng như tôi đây, đấu tranh th́ không biết tránh đâu, chưa kịp tránh đâu th́ đă bị trâu đánh. V́ vậy bây giờ tôi đang thất nghiệp!

I)- Một mẩu đối thoại:
A: Bên đó thế nào?
B: Ồ, có đại phong.
A: Làm ǵ th́ làm, nhớ thủ tục đầu tiên đấy nhé!
B: Vâng, biết rồi, khổ lắm nói măi. À, anh thấy cô ấy thế nào?
A: Người đẹp có đôi chân thảo b́nh nên h́nh chụp tôi lộng kiếng rồi!
B: Anh th́ lúc nào cũng tếu, cũng vũ như cẩn vậy.
A: Thôi chào, chúc anh mạnh sự ḷi.!!!
(Chú thích: - Thảo b́nh, theo nghiă Hán Việt, thảo là cỏ, b́nh là bằng. Thảo b́nh là cỏ bằng. Cỏ bằng nói lái là cẳng ḅ. - Mạnh sự ḷi nói lái là Mọi sự lành).

K)- Bài thơ chú Phỉnh:

Tạp chí Xưa Nay số 298 (12/2007), nhân kỷ niệm 15 năm ngày mất của Quách Tấn (một nhà thơ sở trường Thơ Đường luật có tên trong “Thi nhân Việt Nam”) có bài viết về tác giả bài thơ nói lái Chú Phỉnh nổi tiếng. Bài thơ nói lái như thế này:

Chú phỉnh tôi rồi Chính phủ ơi,
Chú khiêng đi mất chiến khu rồi!
Thi đua sao cứ thua đi măi,
Kháng chiến như vầy khiến chán thôi!.

Theo ô.Quách Tạo, tác giả bài thơ nói lái này là Hồ Đệ, người đă gây dựng vào năm 1954 ở Quảng Nam tổ chức Hậu Quốc Dân Đảng phối hợp với nhóm các chức sắc Cao Đài do Cao Hữu Chí đứng đầu để chống Việt Minh và đă bị Ṭa án Liên khu V xử.

Không hiểu sao về sau người ta lại cứ nghĩ tác giả bài thơ nói lái này là nhà thơ Quách Tấn, có thể v́ theo lư luận của hỏi-cung-viên Cao Kế: “Bài thơ Đường này anh không làm th́ ai vô đây mà làm?”

Về chuyện này, năm 1991, Quách Tấn, khi đó đă mù, nói với Quách Tạo: “Việc đời cũng lạ. Văn của ḿnh th́ họ chê nhưng lại đem chép hàng vài chục trang sách của ḿnh rồi kư tên, xuất bản làm tác giả. C̣n văn bá láp và phản động th́ họ lại quả quyết đó là của ḿnh để t́m cách buộc tội”.
Cùng với tư tưởng “phản động” nầy, trong bài “Nói lái” của Đỗ Thông Minh cũng có ghi bài thơ “chú Phỉnh” tuy có khác đi đôi chút:

Kháng chiến thôi rồi khiến chán ôi,
Chiến khu để lúa chú khiên rồi!
Thi đua chi nữa thua đi quách,
Anh hùng? Chỉ tổ ung hành thôi!

Đặc biệt, trong bài phiếm luận “Nói lái mà chơi,” nhà văn Huy Phương giải thích về nguồn gốc của bài thơ nầy như sau:

“Trong thời kháng chiến chống Pháp, khoảng những năm 1951- 52, sau Đại hội Đảng Lao Động (tức đảng Cộng Sản ngày nay), chính phủ CS bắt đầu tinh giảm biên chế và loại các thành phần tiểu tư sản ra khỏi bộ máy công quyền. Một bài thơ nói lái do một nhân vật vô danh bất măn bỏ kháng chiến về thành tung ra rất được phổ biến. Chính v́ những tiếng nói lái đặc biệt (tiếng Hán Việt lái thành tiếng Nôm) mà bài thơ được người ta nhớ lâu và truyền tụng:

Chú phỉnh tôi rồi chính phủ ơi,
Chiến khu thu cất chú khiêng rồi!
Thi đua thắng lợi thua đi măi,
Kháng chiến lâu ngày khiến chán thôi!

Ngoài sự bất măn với “chú Phỉnh,” có người c̣n than oán đến cả Hồ chí Minh nữa:

"Chú phỉnh tôi rồi chính phủ ơi,
Chí Minh rơ thật chính mi bày!
Thi đua mọi mặt thua đi măi,
Kháng chiến lâu ngày khiến chán thay!!!...

Rơ ràng, chính v́ bài thơ được phổ biến bằng cách truyền miệng nên t́nh trạng “tam sao thất bổn” là không thể tránh, mặc dù nội dung không thay đổi nhiều lắm.

L)- Câu ró và Câu rạo:

Có anh chàng nọ trước kia để râu trông rất đẹp nhưng sau đó không biết lư do ǵ, cạo đi hàm râu của ḿnh làm cho cô bạn gái nhận không ra. Chàng bèn làm thơ nói lái như vầy để than thở:

Xưa kia câu ró ngó xinh,
Bây giờ câu rạo vô t́nh ngó lơ!

M)- Nói lái để hẹn ḥ:

Trai gái miền Trung hẹn ḥ gặp gỡ nhau, sợ có người nghe nên t́m cách nói lái vẩn vơ về ruộng đồng, rơm rạ để hiểu ngầm với nhau.

Chàng nói bâng quơ: “bị môn, bị khoai, bị nưa”. Nàng chưa có cơ hội nên khất: “cau khô, trầu héo, tái môi.” hay “nón cụ, quai thao, tốt mối, xấu cuồng” hoặc “bưởi đỏ, cam sành, tốt múi”..

Người qua đường không thể hiểu rằng bị nưa là bựa ni (tức là bữa nay), tái môi là tối mai, tốt mối xấu cuồng là tối mốt xuống cầu, tối múi là túi mốt (tức là tối mốt).

N)- Đặt tên con:

Biết Tú Đạp là dân học thức nên có người quen nhờ đặt tên cho đứa con trai vừa mới sinh. Sau mấy ngày suy nghĩ, anh đề nghị người quen nên đặt tên con là Gia Bảo v́ cái tên này nói lên rằng cả gia đ́nh rất quí cậu bé.

Sau khi làm giấy khai sinh cho cậu bé được mấy ngày, ông bố đến gặp Tú Đạp giận dữ hỏi:

- Tại sao anh biết là hồi đó chúng tôi mua phải loại bao giả, hả? Bao nội địa th́ có khi bị rách, chớ làm ǵ có bao giả!!! (Gia Bảo nói lái là Bao giả!)

O)- Thuyền ta lái gió:

Biết nói lái, biết tṛ chơi chữ để thưởng thức cái của trời cho mà c̣n để tránh… làm phiền người nghe v́ lời thật mất ḷng. Nhưng cũng có trường hơp ngược lại, người nói vô t́nh nói lái làm khổ cả người nói lẫn người nghe.

Số là, có một ông thầy giáo khi đọc đề thi về bài thơ "Đoàn thuyền đánh cá" của Huy Cận, thay v́ đọc câu "Thuyền ta lái gió với buồm trăng" đă vô tư đọc thành “Thuyền ta ló giái với buồm trăng,” khiến cả lớp cười rần lên làm ông thầy sượng chết người. Ôi, tiếng Việt đáng yêu mà cũng đáng sợ quá!

P)- Đít mấy lỗ:

Việt Nam thời chưa mở cửa, người dân sử dụng xe gắn máy phải mua xăng ở những cây xăng chui v́ không có tiêu chuẩn để mua ở cửa hàng quốc doanh. Dấu hiệu của cây xăng chui là một cái chai đặt trên cục gạch nằm bên lề đường. Người khách dừng xe lại gần nơi đó sẽ có người đến chào hàng:

- Chành ao! Đít mấy lỗ?
Nếu là khách quen, sẽ trả lời đúng điệu:
- Chèm ao! Đít hai lỗ.
Vậy là việc mua bán diễn ra một cách êm xuôi bằng những câu nói lái chuyên nghiệp. (Đó là: Chào anh, đổ mấy lít? Chào em, đổ hai lít!)

Nói lái vẫn là một h́nh thức vô cùng đặc sắc của ngôn ngữ Việt, với khả năng nhạy bén về tính trào phúng, tính châm chọc... chúng ta tin rằng nói lái sẽ tồn tại với người Việt. Nếu ai đó hằng quan tâm đến nền Văn học sử nước nhà, xin một lần ghé mắt đến nghệ thuật Nói lái, xem nó như một bộ phận của Văn học Dân gian Việt Nam.

5/- Nói Lái trong Thi Văn:

Thi Văn là một trong những bộ môn Văn học Nghệ thuật. Muốn trở thành nhà thơ, người làm thơ ngoài cái thiên tư đặc biệt, cái tâm hồn nhạy cảm với thiên nhiên với con người, với vạn vật…c̣n phải biết rơ về qui luật bằng trắc, cách gieo vần và các thể loại. Làm một bài thơ đúng luật đă khó rồi, huống hồ làm một bài thơ nói lái lại càng khó hơn nữa. Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu một số bài thơ Nói Lái để thấy sự tài t́nh của các nhà thơ dân gian và sự phong phú của tiếng Việt.

Trước hết là bài thơ “Nhớ Bạn” của cụ Thảo Am Nguyễn Khoa Vy (mất năm 1968). Cụ là người cùng thời với cụ Ưng B́nh Thúc Giạ thuộc thế hệ cuối cùng của Quốc tử giám:

Nhắc bạn những thương t́nh nhạn bắc,
Trông đời chỉ thấy cảnh trời đông.
Đêm thâu tiếng dế đâu thêm măi,
Công khó chờ nhau biết có không!

Bài thơ nầy c̣n có thêm một bản khác như sau:

Ḍng châu lai láng, đĩa dầu chong,
Công khó đợi chờ, biết có không?
Nhắc bạn thêm thương người nhạn bắc,
Trông đời ngao ngán giữa trời đông.

C̣n đây là bài thơ “Đêm đi đ̣ Đập Đá” cũng của cụ Thảo Am:

Đập cũ đ̣ đưa đủ cặp đời,
Trời cho sức khỏe lắm tṛ chơi.
Có đôi , khi rảnh lên côi đó,
Cười ngả nghiêng cho mệt cả người.

và bài:

Cầu đạo cần chi phải cạo đầu,
Dầu lai dưa muối cũng dài lâu.
Na bường bát tới nương bà văi,
Dầu săi không tu cũng giải sầu.

Cụ Thảo Am c̣n viết một bài thơ khác năm 1946 sau khi nghe tin giặc Pháp chiếm lại đồn Mang Cá:

Lũ quỷ nay lại về luỹ cũ,
Thầy tu mô Phật cũng thù Tây.

Tiếp theo, là bài thơ “Lỡ th́ bát Phố” của Y Nguyên:

Ngày tối mơ màng một mối tơ
Mơ chồng nên luống nhũng mong chờ
Có người phơi phới vui cười ngó
Riêng tớ êm rơ tiếng khóc hờ

Liên tục là những bài thơ của Lăo Dương (bút hiệu là Dưỡng Lao) đối đáp với các phu nhân của ông.

 #2 · Posted: 21 Dec 2012 11:53 · Edited by: vgtran 
vgtran
Moderator
Đầu tiên là bài “Ṿi vĩnh vợ, vợ vờ vĩnh:”

Chồng yêu mà vợ chẳng chiều ông,
Lại tống lầm đi một tấm ḷng.
Biết vậy thà ngồi mà viết bậy,
Bế bồng khăng khít cũng bằng không!

Bùi Tiến trả lời thay Lăo Dương đại phu nhân bằng bài thơ “Có nên chiều ông chồng yêu?:”

Không ông đâu được phải không ông?
Nghe lóng rồi ra cũng rối ḷng.
Táo bạo, xưng ông, chà táo bạo,
Chồng khiêu khích vậy, đáng chiều không?

Liền sau đó, Lăo Dương đại phu nhân bổ túc ư của Bùi đại nhân bằng bài thơ mang tên “Chê Chồng Chí Chóe:”

Ḷng tḥng em quá, chẳng thèm ông,
Long tong lờ lửng sợi tơ ḷng.
Lài rài mấy chén xong rầy măi,
Lốc thốc khinh đời rứa thích không?

Kế tiếp là bài “Vợ Vẫn Vấn Vương” của Nhị phu nhân:

Chồng ơ thờ mấy cũng chờ ông,
Lêu lỗng tầm đâu được tấm ḷng.
Cậy chàng yên vị, ông càng chạy,
Công khó chờ ông biết có không?

Nhằm lên tiếng cho Tam phu nhân, Tùng Linh có bài “Mèo nào cắn Mĩu nào” như sau:

Chồng ôm thủ thỉ bám chồm ông,
Long đầu hai vị chớ đau ḷng.
Tắc tíc gia truyền môn tíc tắc,
Khởi công khe hở khẽ cởi... không!

Không ngờ vừa lên tiếng, Tam phu nhân bị Nhị nương và Tứ nương “sửa lưng” qua bài “Lửa Tam Muội - Quạt Ba Tiêu:”

Đă bốc ăn rồi lại bắt ông,
Buông lỏng, lừa nhau cướp lửa ḷng.
Quạt Ba Tiêu bạt qua Tam Muội,
Lộc bổng kho đầy lại bỏ không!

Bùi đại nhân lần nữa thay mặt Lăo Dương đại phu nhân nhắn nhủ qua bài “Gửi các Phu Nhân Bé:”

Bồng, A! ba bốn cũng Bà Ông,
Lừa lọc đuờng đời, cốt được ḷng.
Cát Lũy cố ganh phần Quư Lạt,(?)
Công không yên phận kẻ công không!

Cuối cùng, Lăo Dương nghe các bà om ṣm ỏm tỏi, chẳng những không đ̣i dưỡng lao mà c̣n dọa sẽ nổi dóa bốc đồng lên qua bài “Bịt mồm bốn mụ:”

Mọi pḥng yên hết! Chớ phiền ông,
Cả rống làm ông rối rắm ḷng!
Xáo, xào không học, lo xào xáo,
Ông bốc, khiêng bà nữa, biết không!

Thế là, cuộc đối đáp vô cùng độc đáo giữa Lăo Dương và các phu nhân chấm dứt, nhường chỗ cho người kế tiếp là cụ Thảo Am với bài thơ “Trách bạn phụ t́nh:”

Mau sai lời nguyện ước mai sau,
Niết bỏ nhau thà nỏ biết nhau.
Nắng đổi mưa thay nhiều nỗi đắng,
Chán chưa t́nh lệ chứa chan sầu!

Tiếp theo là “Bài thơ xuân” được viết theo thể thơ Đường luật và một bài thơ Lục bát của Việt Nam từ trên Web Yahoo 360 độ, không đề tên người viết:

Phấn lau chưa dứt nghe pháo lân,
Tân niên rót rượu mời Tiên nâng.
dâu hứa đăi ăn dưa hấu,
Chú rể tinh thần tựa t́nh thân.
Có ông phó đảo châm pháo đỏ,
Chú lính xuân qua muốn xa quân.
Mang vài chậu kiểng mai vàng rộ,
Xin tuần nghỉ phép thoả t́nh xuân.
Về thường thăm lại vườn thề,
Buồn lo trăm mối năo nề ḅ luôn.
Cuộn cho dùi mập cọ chuông,
Người giàu sâu hiểm, chớ buồn dầu sao.
Đau ḷng lên tận Đông Lào,
Thầy tăng ra đón, vẩy chào thằng tây.
Tây đà vốn biết ta đầy,
Bầy gà tre gạ đổi ngay ghe trà.
Chả thằng nào bảo chẳng thà,
Đổi trao như vậy chắc là đảo trôi.
Vội ta mắc phải vạ tôi,
Đành thôi vá chiếu về ngồi đồi thanh.
Bánh ong để dưới bóng anh... (bánh tổ ong)
Ăn rồi chợt nghĩ lanh quanh: Ôi rằng!
Bắn trong khung vẽ bóng trăng,
Làng thâm u quá cũng bằng lầm than.
Ngang vài cung gấm ngai vàng,
Khổ ḷng ngắm thử y chang khổng lồ.
Cố ra t́m bắt cá rô,
Kho chi một tộ khi cho họ mừng...

Tiếp đây là bài thơ phá thể của Ông Tôn Thất Đàm ở Úc nhan đề “Má Con” như sau:

Má đưa con đi trong mưa đá
Má đặt con lên mặt đá bằng
Má đi vào xem mi đá bóng
Má đang mang đá tới lót nền
Má lột một lá dính vào phên
Má lấy bên hè đi mấy lá
Má ḷn ṃn lá cửa ngoài hiên
Má cần mần cá để kho liền
Má cắt con mắt cá đầu tiên
Má cũng mua đầy hai mủng cá
Má can con ăn mang cá ḱnh.
Và một câu tương tự nhưng của người khác:
Má Cúc múc cá đem đi bán.
Má cắt ống quần cao hơn mắt cá.

Đọc qua những bài thơ trên đây, chúng ta thấy làm thơ nói lái quả là không dễ. Vậy mà vẫn có những bài thơ tuyệt tác được ra đời, được lưu truyền qua nhiều thế hệ chứng tỏ người Việt Nam đầy sáng tạo và tiếng Việt thật vô cùng phong phú. Xin đọc tiếp bài thơ “Nhắn bạn” sau đây để xác minh điều đó:

Làng vọng c̣n hơn cái lọng vàng,
Mang sơ tấm áo, chớ mơ sang.
Nhắn bạn lên non đừng bắn nhạn,
Hang lỗ t́m vào bắt hổ lang.

Hoặc là:

Trông khống vô pḥng thấy trống không ,
Chứa chan sầu lệ chán chưa chồng.
Ḍng châu lai láng dầu chong đợi,
Bóng nhạn lưng chừng, bạn nhóng trông!

Hay một bài thơ khác:

Đời chua, bậu cứ thử đùa chơi
Chơi ngổ xong rồi, kiếm chỗ ngơi
Bến đậu thênh thang, mời bậu đến
Ngồi đây say tít, ngất ngây đời.

Câu cuối của bài thơ ngồi đây đă bị ép thành ngây đời. Điều đó chứng tỏ nói lái thành thơ, không phải dễ dàng!

Ấy vậy mà bài thơ sau đây sẽ c̣n làm chúng ta thật sự ngạc nhiên về sự phong phú, đa dạng của ngôn từ tiếng Việt cũng như sự tài t́nh của nhà thơ. Nếu ai định dịch nó sang ngôn ngữ khác, chắc là phải bó tay! (khi đọc nhớ lái ở ba từ cuối mỗi câu sẽ thấy):

Mỗi độ xuân sang chả có ǵ! (chỉ có già)
Giàu sang, keo kiệt để mà chi? (đĩ mà chê)
Vui xuân chúc tết cầu gia đạo, (cạo da đầu)
Cạn chén tiêu sầu tiễn người đi. (tỉ người điên)

Sau hết là bài thơ Đường luật hiếm hoi của người đất mũi, gởi tặng đồng hương và những người thích Nói lái:

CÀ MAU thế đất chẳng CAO MÀ.
ĐẤY MUỖI, đĩa nhiều, ĐUỔI MẤY ra.
HƯƠNG TRÀM thơm ngát, HAM TRƯỜNG cũ.
LÁ ĐỘ tàn thu LỘ ĐÁ tà.
ĐẦY L̉NG thương mến, ĐỒNG LẤY nhớ.
CỔNG XƯA liền với, CỬA SÔNG nhà.
AI G̀N tổ quốc, IN GIÀY trận?
ĐUỔI MẤT Cộng thù, ĐẤT MŨI ta."

6/- Nói lái trong thơ Hồ Xuân Hương:

Hồ Xuân Hương (1772-1822) là nhà thơ Nôm nổi tiếng, đă để lại nhiều bài thơ độc đáo với phong cách thơ vừa thanh vừa tục và được mệnh danh là Bà chúa thơ Nôm. Hồ Xuân Hương được coi là một trong những nhà thơ tiêu biểu của Văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ 18, nửa đầu thế kỷ 19. Bà c̣n là một hiện tượng độc đáo nhất và chắc chắn cũng là một nữ sĩ độc đáo nhất trong nền Vǎn học cổ điển Việt Nam.

Đặc biệt, danh sĩ nổi tiếng Hồ Xuân Hương đă khéo léo đưa cách Nói lái vào trong thơ vô cùng độc đáo và linh động. Có lẽ bà hay đùa cợt hoặc v́ bà căm tức những hạng người kém cỏi trong xă hội hay v́ thái độ phản kháng trong xă hội phong kiến Việt Nam đương thời nên dùng thi văn để bày tỏ. Và nhờ cách nói lái quá tài t́nh, quá táo bạo mà tiếng cười trong thơ của bà thêm ư mỉa mai sâu sắc...

Hồ Xuân Hương với những bài thơ tả vật, tả cảnh đă dùng những h́nh tượng, chữ nghĩa rất táo bạo, rất tượng h́nh, tượng thanh khiến cho người ta thường nghĩ ngay đến các “chỗ kín” của đàn ông, đàn bà hay những quan hệ t́nh dục giữa nam nữ, như một ám ảnh tâm lư, nếu nói theo các nhà phân tâm học (như Vịnh Cái quạt, Đánh cờ người, Quả mít, Đèo Ba Dọi...)

Cái kiếp tu hành nặng đá đeo,
Vị ǵ một chút tẻo tèo teo.
Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc,
Trái gió cho nên phải lộn lèo. (Kiếp Tu Hành)
Quán sứ sao mà cảnh vắng teo
Hỏi thăm Sư cụ đáo nơi neo?
Chày ḱnh, tiểu để suông không đấm,
Tràng hạt, vải lần đếm lại đeo.(Chùa Quán Sứ)
Giọt nước hữu t́nh rơi lơm bơm,
Con đường vô ngạn tối om om.
Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc
Khéo hớ hênh ra lắm kẻ ḍm. (Hang Cắc Cớ)
Đang cơn nắng cực chửa mưa hè,
Rủ chị em ra tát nước khe.(Tát Nước)
...Thú vui quên cả niềm lo cũ
Ḱa cái diều ai nó lộn lèo.(Quán Khách)
Chàng với thiếp đêm khuya trằn trọc,
Đét đồn lên đánh cuộc cờ người. (Đánh cờ người)
Ngoài ra, c̣n có một câu đối lái rất “mặn” sau đây, có người cho là của Hồ Xuân Hương nhưng có người lại cho là của Phạm Đ́nh Hổ (?)
Tán vàng, lọng lá, che đầu nhau đỡ khi nắng cực,
Thuyền rồng, mui vẽ, vén buồm lên rồi sẽ lộn lèo.

Nhằm tiếp nối truyền thống nói lái “Thần sầu Quỷ khốc” của Hồ nữ sĩ, chúng tôi xin trích dẫn một bài thơ nói lái của một tác giả vô danh nhan đề là “Trông Trời” (xin đọc theo kiểu Bắc kỳ là Chông Chời):

Cô kia sao cứ trông trời,
Để tôi xin nguyện làm trời cô trông.
Trông trời sướng lắm phải không?
Trời mà trông lại c̣n mong nỗi ǵ!
Sau đây lại thêm một bài thơ khác theo kiểu nói lái:
Ban ngày lặt cỏ tối công phu,
Đậu ủ lâu ngày hóa đậu lu.
Ngày ta địa chủ, đêm tu đạo,
Đạo chi lạ rứa: "Đạo ù ù"!!!

Chắc chắn là c̣n có rất nhiều bài thơ “Nói lái mặn” như thế nầy đang được truyền miệng trong dân gian nhưng v́ sợ các nhà Đạo đức không được hài ḷng nên tạm “chức dấm”.

7/- Quảng Nam nói lái:
(theo Huỳnh Ngọc Chiến)

Nước ta có rất nhiều vùng nói lái, và mỗi vùng đều ít nhiều mang một sắc thái riêng, nhưng cách nói lái ḥa nhập tự nhiên trong ngôn ngữ đời thường có lẽ phải nói đến vùng đất Quảng Nam.

Giọng Quảng Nam phát âm rất sai:

- các phụ âm v, d ở đầu chữ,
- các phụ âm c, t ở cuối chữ,
- các nguyên âm a, ă cùng các điệp nguyên âm đi chung với nó như ao, ắt …

Đặc biệt là các âm “g” ở cuối chữ và các dấu “hỏi,” dấu ”ngă”. Khoai lang và hoa lan được đọc thành một âm.

Nhưng chính đặc điểm nhập nhằng không rơ ràng trong phát âm lại là miếng đất màu mỡ cho Nói lái phát triển. Nói lái kiểu Quảng Nam thường mang đặc điểm “chém to kho mặn” của người dân vùng đất này, nghĩa là người ta khoái nói lái “mặn”. Trong các nhóm chữ nói lái đó, hầu hết đều nhắc đến bộ phận kín đáo trên cơ thể hoặc những điều bị xem là “vùng cấm kỵ” trong ngôn ngữ. Thông thường người có “văn hóa” ít hoặc không bao giờ nói đến những “vùng cầm kỵ,” dầu đó là những vùng mà họ luôn xâm nhập vào và luôn nghĩ đến. Chỉ có người b́nh dân mới dám mạnh dạn nói cái ḿnh nghĩ dưới h́nh thức Nói lái, dầu chỉ để thư giăn.

Trong đời thường, những câu chuyện tiếu lâm “mặn” đôi khi lại kéo lại gần nhau hơn những người c̣n đang e ngại nhau trong buổi sơ giao. Lạm dụng tiếu lâm “mặn” hay lói nói lái “mặn” th́ dễ trở thành suồng să, nhưng nếu dùng đúng liều th́ nó có thể trở thành một chất kết chặt t́nh thân.

Trong cuộc nói chuyện thường ngày, người dân Quảng Nam thường luôn luôn tận dụng mọi cơ hội Nói lái để góp thêm tiếng cười. Dường như người dân Quảng Nam nào cũng mang sẵn máu tiếu lâm trong người nên họ thường tiếp thu Nghệ thuật Nói lái rất nhanh và nhạy bén.

Các cô chủ quán người Quảng Nam tại các quán nhậu, ngoài bản chất nói lái cố hữu, dường như được “trui rèn” thêm qua nền ”Văn hóa nhậu” nên khả năng nói lái đáng nể, khiến ngay các “Chuyên gia nói lái” Quảng Nam cũng lắm khi phải chịu bái phục. Tên các món ăn thức uống đều trở thành phương tiện để đùa bỡn, chọc ghẹo nhau:

- Lươn th́ phải có món lươn nấu với rau dền, hay gọi tắt là lươn dền.
- Dưa leo th́ phải là loại leo đá và phải được thái dọc ăn mới ngon.
- Mực th́ món đặc biệt vẫn là mực xào với ng̣, tức món mực ng̣.
- Thịt rừng th́ phải là thịt rừng nướng, riêng thịt chồn th́ phải lùi trong than mới đúng cách.
- Món thịt kỳ nhông được gọi là món “khủng long đời cuối,” nhưng khi gọi th́ các bợm nhậu không quên hỏi cô chủ quán có thích món long nền (lên ṇng) hay không.
Ăn mít phải chọn mít đặt và có người đút cho th́ ăn mới thấy ngon.

Ăn cốc th́ phải đạp cho mềm, đừng ăn loại cốc đắng.
Ăn lẩu th́ phải đốt bằng cồn Lào hoặc cồn lỏng mới mau sôi hơn cồn đặc!

Người dân quê được gọi là người ở các “làng thôn”. Một đức ông chồng gây gổ đánh vợ, bạn bè hỏi, anh ta trả lời: “Giận th́ làm vậy chứ tui có đánh đấm chi đâu, có đánh bả cũng chỉ là đánh mẹo thôi mà”.

Hạt dền xào với da lươn,
Cùng ba xi đế lên giường ... chờ trăng
Phân ḅ trộn với phân trâu
Thêm tro, xới kỹ cho bầu ra hoa.

Ở Quảng Nam, người nào có tài nói lái th́ được khen là người nói lái giỏi, ngược lại là nói lái dở. Nói lái nhanh quá gọi là nói lái dọt và nhiều quá th́ bị chê là nói lái dồn. Những người thích nói lái chắc chắn sẽ t́m thấy nhiều điều lư thú bất ngờ khi t́m hiểu cách nói lái của người Quảng Nam. Bên cạnh những điểm tinh tế về ngôn ngữ, ít ra là nó sẽ tạo những trận cười sảng khoái và thắt chặt thêm mối t́nh thân bên chén rượu.

8/- Nói Lái thời Xă hội Chủ nghiă:

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, người dân miền Nam nói riêng và cả nước nói chung đều lâm cảnh điêu linh, lầm than và đói khổ. Trong hoàn cảnh khắc nghiệt dưới sự cai trị của chế độ Cộng Sản, người ta thường dùng Ca dao, Tục ngữ hoặc những câu chuyện Tiếu lâm để nói lên thực trạng của xă hội hay bày tỏ thái độ phản kháng của họ bằng cách truyền miệng nên không biết ai là tác giả thực sự. Dĩ nhiên, h́nh thức Nói lái cũng được tận dụng tài t́nh nên trong dân gian đă có những câu nói lái rất phổ thông từ Nam ra Bắc:

- Quy mă là qua Mỹ hay Mă quy là Mỹ qua. (Chuyện kể rằng: Vào cuối năm 1979, sau khi bị đàn anh Trung quốc dạy cho bài học đích đáng, bọn chóp bu CS Hà nội đâm ra lúng túng v́ mất chỗ dựa vững chắc, cộng với nền kinh tế kiệt quệ do hậu quả chiến tranh để lại nên bọn họ t́m cách cứu nguy chế độ nhưng chưa biết cách nào. Nghe thiên hạ điềm chỉ, bọn họ ra bờ hồ Tây đặt bàn cầu khẩn nhờ thần Kim Quy chỉ giúp. Quả nhiên, từ giữa hồ bỗng nổi lên con rùa, sau đó lại có thêm con ngựa. Cả bọn bàn nhau Con rùa là Quy, con ngựa là Mă. Quy Mă là qua Mỹ. Nhưng nghĩ lại, ḿnh vừa chửi Mỹ là đế quốc, là kẻ thù số 1 nên không thể làm theo lời Thánh dạy. Thế là bọn họ bàn nhau cầu khẩn thêm lần nữa. Lần nầy th́ con ngựa nổi lên trước con rùa, nên bàn rằng Mă Quy tức Mỹ qua. Vậy là nhờ Thần Rùa hướng dẫn mà chế độ c̣n “ḅ” được cho đến ngày nay).

- Kỹ sư đôi lúc làm cư sĩ,
Thầy giáo lắm phen cũng tháo giầy.
Giáo chức giờ đây đành dứt cháo,

Khoái ăn sang nên... sáng ăn khoai. (Thật là đau ḷng cho giới trí thức, v́ họ không thuộc giai cấp bần cố nông để được chế độ mới trọng dụng nên đành phải ăn khoai và dứt cháo!).

Nói về tệ nạn cửa quyền tham nhũng của chế độ và các tệ nạn th́ dân gian có các câu nói lái:

- Thủ tục đầu tiên là...Tiền đâu? (tức là viên chức Nhà nước ăn hối lộ công khai)
- Vũ Như Cẩn là Vẫn như cũ.(mặc dù CS tuyên truyền là có tự do bầu cử nhưng kết quả vẫn là những tên chóp bu lâu đời do Đảng chỉ định sẵn)
- Nguyễn Y Vân là Vẫn Y Nguyên.(vẫn những tên lănh đạo cũ chớ không có ǵ thay đổi)
- Bùi Lan là Bàn Lui.
- Hộ khẩu là Hậu khổ.
- Chà đồ nhôm là chôm đồ nhà. (v́ thuộc gia đ́nh ngụy quân, ngụy quyền nên con cháu không được thu dụng vào bất cứ cơ quan nào v́ lư lịch không tốt theo quan điểm của chế độ CS nên phải chôm từ từ đồ đạc trong nhà để bán, tạm sống qua ngày)
- Bác Hồ vĩ đại là Bác Hồ dại đĩ. (nghiă là Bác Hồ có bao nhiêu tiền đều đem cho mấy cô gái măi dâm ăn hết)
- Đem Bác Hồ lộng kiếng tức là Đem già Hồ liệng cống.
- Bảng đỏ sao vàng là Bỏ Đảng sang giàu.(Cho nên hiện nay, ngoài mặt th́ xưng là Đảng viên cao cấp để nắm chức quyền nhưng thực chất bên trong th́ đă hủ hóa, tham ô lăng phí nên đă trở thành những nhà Tư bản đỏ giàu sang tột bực, tài sản lên đến hàng triệu, hàng tỉ Mỹ kim, bây giờ gọi là Đại gia).
Nhằm đả kích chế độ th́ thiên hạ có câu:
- Con đường Bác đi, đường bi đát,
- Chán bảng đỏ, nhiều anh bỏ đảng.
- Đảng trương bảng đỏ, dân đ̣i bỏ đảng.
- "Tự do" là cái "rọ tư"
Mỗi người một rọ chẳng từ một ai.

Chỉ riêng ngành giáo dục, đă có nguyên một bài nói lái “Tự thán” như sau:

Thầy giáo tháo giày đành đi dép,
Nhà trường nhường trà uống nước trong.
Tháng đầy, thầy đáng dăm lon gạo,
Lương thầy tiền lính, tính liền xong!

Hoặc là:

Thầy giáo tháo ủng tháo giày,
Tháo ủng thủng áo tháo giày nóng chân.
Giáo án dành lại khi cần,
Thay vải dán áo việc làm tốt thôi!

Và đến khi về hưu trí th́ đành:

- Lấy lương hưu để lưu hương. (Bởi v́ tiền hưu dưới chế độ CS chẳng được bao nhiêu nên chỉ để dành đó mà ngửi!)

Nhiều khi được Nhà nước mời lên Trụ sở Ủy ban kêu gọi "hiến" tài sản hay bất cứ vật ǵ đó mà nhà cầm quyền mong muốn:

- Nhường luôn hết cả nhà xe, nhè luôn hết cả xương.
- Nhường luôn miếng đất, nhất luôn cả miếu đường.
- Nhường tới tận vườn sau, nhàu luôn tới tận xương.
- Nhường tới cái túi, nhúi... tới cái tường. (Thật sự, bạo quyền CS đă dồn người dân tới tận chân tường, chắc chắn sẽ có họ nhất tề nổi dậy và ngày chế độ CS tan ră không c̣n xa lắm!).

9/- Nói lái trong tiếng Anh và Pháp:

Đất nước Việt Nam bị thực dân Pháp đô hộ gần 100 năm và từ ngày 30/4 năm 1975 đă có hơn hai triệu người Việt lưu vong đang sinh sống nơi hải ngoại mà đa số ở các nước nói tiếng Anh. V́ vậy, có rất nhiều người nghe và đọc hiểu tiếng Pháp hoặc tiếng Anh. Không rơ là trong ngôn ngữ Anh-Mỹ và Pháp có nói lái được không, xin các bậc cao minh vui ḷng chỉ giáo, nhưng có hai giai thoại về nói lái trong tiếng Anh và tiếng Pháp xin được kể như sau:

1)- Cô Chín hồi c̣n ở Việt Nam nhà ở gần bến đ̣ nên được gọi là “Chín bến đ̣.” Cô Chín qua Mỹ được hai năm nên cũng học được chút ít Anh ngữ đủ đi siêu thị và thanh toán tiền bạc.

Hôm nọ, cô vào Thương xá để mua sắm quần áo. Cô đang say sưa ngắm nghiá các mặt hàng th́ cô bán hàng tiến đến hỏi:

- Hello! May I help you!

Cô Chín bị hỏi bất ngờ nên luưnh quưnh:

- Yes, yes…I just took a lake (thật ra là phải nói “I just take a look”) Không biết cô bán hàng có hiểu hay không nhưng cũng “yes, yes” rồi đi nơi khác.Từ Take a look nói lái thành Took a lake th́ chỉ có người Việt nói và hiểu mà thôi!

2)- Chuyện kể như thế nầy: Có ông Tây dẫn bà “me Tây” vào cửa hàng bách hóa định mua một cái quạt máy. Sau khi chọn được món hàng, ông Tây hỏi bà Đầm có hài ḷng không để ông trả tiền nhưng bà Đầm thấy giá tiền cao quá nên trả lời “trop cher!”(mắc quá) nhưng có lẽ v́ vô t́nh nói lái thành “très chaud!”(nóng quá) nên ông Tây lật đật mua cho bà v́ tưởng bà đang bị nực nội. (từ “très chaud” nói lái thành “trop cher” nên có giai thoại nầy)

10/- Nói Lái trong sinh hoạt hàng ngày:

Theo sự nhận xét của Mai văn Sang trong bài “Cái hay của Nói lái” th́ qua quá tŕnh giao tiếp hàng ngày trong xă hội, người ta thường dùng cử chỉ, điệu bộ, biện pháp tu từ… để lời nói thêm sinh động, phù hợp với thế giới cuộc sống muôn màu muôn vẻ. Trong đó, h́nh thức “nói lái” có những nét độc đáo thường được người nói chú ư.

Trẻ em dùng h́nh thức nói lái như một dấu hiệu riêng để trao đổi thông tin với nhau. Chẳng hạn như:

- “Tùng ơi đi chơi” thành ra “Tời ung – đơi chi,”

- “ăn cơm” thành ra “ơm căn,” “đi tắm” thành “đâm Tư,” “đá banh” thành “đánh ba,” “muốn chồng” thành “mống chuồng”…

Những lúc quây quần đùa giỡn, các em không dùng từ thể hiện ư nghĩa trực tiếp mà dùng cách nói lái để chọc ghẹo nhau, ví như không nói “mít ướt” mà nói “mướt ít,” không nói “đầu ḅ” mà nói “đ̣ bầu” thay v́ rủ “đi tắm” nói thành “đâm tư” hay “đâm chuột” hoặc muốn đi cầu th́ nói đi “bứt cỏ”…với cách nói này, các em không cần phải học tập sách vở mà vẫn biết.

Trong cuộc sống hiện đại, người lao động thường tập trung vào công việc, dễ gây mệt mỏi v́ vậy họ cũng thích nói lái để tạo sự hài hước, dí dỏm vui tươi. Đương nhiên là câu nói lái phải phù hợp với hoàn cảnh. Thí dụ như trong những lúc chung vui bên bàn tiệc th́ người ta lại cao hứng:

- âu cái đằn ăn cái đầu,
- ê cái mằn ăn cái mề,
- uống ít ly uống y một lít,
- hạ cờ Tây hạ Cầy tơ làm thịt Chó con.
- quán Mộc tồn (Mộc tồn nghiă chữ Hán Việt là cây c̣n. Cây c̣n con cầy = con chó). Quán mộc tồn là quán bán thịt chó.
- con nhỏ nầy là Bích La, con lớn kia là Bích Lẩy (tức con chó nhỏ th́ ba lít, c̣n con chó lớn th́ phải uống đến bảy lít mới say).
- “Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu”(có nghiă là khi gặp “bạn rượu” th́ chỉ có Trời mới biểu thôi!)

Sau đây là lời tâm sự của Tam Ánh - một tay ăn nhậu. Anh chàng nầy chẳng những làm thơ nói lái bằng cách chuyển từ một câu Ca dao quen thuộc mà c̣n chuyển cả một bản nhạc của VC (bài Tiểu đoàn 307) thành lời ca nói lái để vừa ca vừa tạo không khí sôi động trong khi ăn nhậu:

“Ưng đă tài đa qui sông Cảng Long Giưu
Cảng Long Giưu sáo tṛng noáy xước...
Ưng đă tài nghiêng té toản điều
Té toản điều Băm Tra Lẩy Bẻ...
Buổi xuất quân toản điều nây ắm
Cả toản điều thười dế sang vào
Người chí siễn tiếc ǵ mới rau
Buổi xuất quân toản điều nây ắm
Ngọng một luyền thời vế nông son...”

Thật là mỉa mai, nhục nhă cho Tiểu đoàn 307 lừng danh! Từ “nghe tiếng” trở thành “nghiêng té,” “tiểu đoàn” thành “toản điều” (đọc theo giọng miền Nam là “tản điều” tức là đă ră hàng ngũ rồi) từ “thề dưới sao vàng” nay trở thành “ thười dế sang vào,” từ “nguyền một ḷng” đă thành “ngọng một luyền,” “người chiến sĩ” thành “người chí siễn”… vậy mà vẫn được đem ra ca hát ỏm tỏi trong các buổi ăn nhậu, th́ thật là hết thuốc chữa!

Cách nói lái sáng tạo như vậy trong khi vui cũng được người nghe chấp nhận v́ nó tạo được sự chú ư và liên tưởng bất ngờ. Hoặc đôi khi chưa hài ḷng về một điều ǵ đó, họ cũng có thể nói: thi đua từ đâu, bàn tính tránh đâu hay đánh trâu, đầu tư thua đi, đấu tranh là bàn tới, bàn lui măi…b́nh (rồi) tán... hay cứ bùi lan

Tuy nhiên, có một vài người câu nệ việc nói lái, tránh đặt tên con bằng những chữ có thể nói lái thành tục tĩu như Thái (dễ ghép với chữ có phụ âm d thành Thái dọt, Thái dúi, Thái ḍng...) Lài (dễ ghép với chữ có âm ồn như Lài dồn, Lài cồn,...) Côn, Tôn, Đôn (ghép với chữ có phụ âm L thành Côn ḷi, Tôn ḷ, Đôn lầm) Thu (ghép với chữ có phụ âm đ thành Thu đạm, Thu đội…). Trong khi đó, có người v́ bản tánh dị đoan sợ lựa tên đẹp đặt cho con sẽ bị “bề trên” quở phạt nên có những tên: Cu lớn, Cu nhỏ, Cu đỏ, Cu xanh hoặc Cái hĩm, Gái chị, Gái em… có người c̣n đặt tên con là Thẹp, Bẹn… Nói chung, nếu lựa tên để đặt cho con, nên tránh những chữ thông thường sau đây v́ dễ bị ghép chung với một chữ khác trở thành mục tiêu cho bạn bè hoặc người thân chọc phá:

- Bôn (lề), Bốn (lù), Bắc (cọp, cực), Cai (dù), Cồn (lái, lầm), Công (ngũ), Cúc (đặc), Cự (bặc), Dặc (thành Cà ông Dặc), Dồn (lần, lùi), Đệ (vũ, thành cụ Đệ), Đặc (vụ, cụ), Đạo (dụ, ù ù), Đại (du), Đắc (thành mụ Đắc), Đức (cóp, cống), Điện (lu), Tốt (làm), Tôn (ḷ), Thu (cúc, đạm), Tú (địa, đạp, đáp), Khôn (liền), Lái (diếm), Môn (làng, lề, lù) v.v…

Điều chúng ta biết được là trong dân gian, người ta rất thích thú được nói lái và nghe nói lái. Có khi v́ t́nh cờ vô ư mà tiếng nói ra thành một tiếng nói lái, có khi người ta t́m cách đẽo gọt, t́m ṭi để kiếm ra những từ nói lái có ư nghĩ. Tác giả có thể là một mà cũng có thể là nhiều người, dần dà ngôn ngữ nói lái thành ra tài sản chung, đóng góp vào kho tàng Văn chương b́nh dân Việt Nam vừa đa dạng vừa hiếm quư. Chúng tôi xin trích dẫn một số tiếng nói lái thông thường mà chúng ta hay bắt gặp trong cuộc sống hằng ngày: - trễ giờ th́ trở về, - ôm nhiều thành yếu mà yêu nhiều thành ốm, - làm sương cho sáo th́ lấy tóc mà may, - đơn giản như đang giỡn, - chà đồ nhôm là chôm đồ nhà, - cây c̣n là con cầy, - cờ tây là cầy tơ…hoặc v́ tế nhị đối với những người có tật bẩm sinh nên không dám nói thẳng mà dùng cách nói lái ṿng vo để ám chỉ như: Anh nầy chắc là tuổi Tân Hợi (Tân là mới, Hợi là heo. Tân Hợi là heo mới. Heo mới nói lái là hơi méo v́ anh nầy có tật méo miệng) hoặc anh kia th́ “hách từ trong nôi” bởi v́ anh ta “hôi từ trong nách” tức là bị bệnh hôi nách…

Đặc biệt, chữ Long (theo nghiă Hán Việt là con rồng, dùng để chỉ nhà Vua) được nhiều người ghép thêm một chữ khác rồi đố đáp lẫn nhau trong những khi họp mặt như: Hoàng hậu đưa con cho Vua bồng, gọi là ǵ? Vua đang ăn, gọi là ǵ? Vua đi lao động, gọi là ǵ?... Và từ đó, có các từ nói lái ngộ nghĩnh như sau:

- Long mắt (Vua đang nhảy đầm nên “lắt mông” theo điệu nhạc).
- Long mi (Vua đang uống Bia ôm nên cần “ly mông”).
- Long trỉ (Vua đang uống rượu nên “ly trỏng”)
- Long khi (Vua chuẩn bị nhậu nên cần “ly không” để đựng rượu)
- Long xưởng (Vua chơi bời quá độ nên bị “xương lỏng”).
- Long vẽo (Vua “leo vơng” nằm ṭng teng nghỉ trưa).
- Long do (Vua bị giựt hụi nên “lo dông”).
- Long vưu (Vua phải “lưu vong” v́ đất nước bị người khác chiếm).
- Long đạo (Vua bị bắt đi “lao động” là vinh quang v́ chạy trốn không kịp).
- Long g̣ (Vua đang tập tạ, nếu không “lo gồng” sẽ bị tạ rớt xuống dập chân).
- Long ḅ (Vua “lo bồng” con để Hoàng hậu đi tắm).
- Long kẻo (Vua đi chơi về khuya phải “leo cổng” vô nhà, sợ làm ồn vợ quưnh).
- Long vơ (Vua bị té găy chân nên phải “lo vơng” đi cứu cấp).
- Long giái (Vua lấy vợ ngoại quốc nên bị “lai giống”)

Và c̣n rất nhiều Long khác nữa nhưng không phải Nói lái nên không đề cập đến, như Long nhai (Vua đang ăn), Long xa (xe Vua đi), Long sàng (giường Vua nằm), Long ngai (chỗ Vua ngồi), Long nhan (mặt Vua), Long bào (áo Vua), Long Biên (Vua ghi số đề), Long B́nh (kho đạn của Vua), Long hồ (nơi Vua câu cá), Long An (nơi Vua trồng khóm), Long beng (Vua bị lác ngứa), Long đền (xe Vua đụng xe người khác), Long đong (Vua bị thất nghiệp), Long hổ tửu (rượu Vua uống), Long Hải và Long Beach (băi biển Vua tắm), Long-distance (điện thoại Vua xài), Long-gine (đồng hồ Vua mang), Long-drug (thuốc Vua uống), Long-View (Vua ngắm cảnh), Long-Island (đảo Vua ở), Long môn tiêu cục (Hăng xe vận tải của Vua), Long đ́nh, Long Xuyên, Long định, Long hưng, Long toàn, Long kiến, Long kiểng, Long sơn, Long Thuận, Long Khánh, Long phú…

Tóm lại, qua những phân tích trên, ai cũng công nhận nói lái quả là một đặc thù của tiếng Việt. Người ta dùng nói lái để châm biếm, để gài người khác trong các câu đố, câu đối, hoặc cố ư ghép chữ để hạ thấp người khác. Chẳng hạn, như chuyện nhà nho nào đó đă dùng sự uyên bác của ḿnh để chửi một quan to mà quan chẳng những đă không biết mà c̣n hoan hỉ chấp nhận trong giai thoại Đại Điểm Quần Thần. Do đó, chúng ta có thể khẳng định nói lái là một thứ vũ khí của dân gian qua phương thức truyền miệng để chống đối, để bôi bác, nhạo báng,…nhằm hạ phẩm cách của kẻ mạnh và cả bọn thống trị.

Tuy nhiên, khách quan mà nói, nói lái chỉ là thứ vũ khí thô sơ của kẻ yếu và sự chống đối đó chẳng qua chỉ là h́nh thức tiêu cực. Có lẽ v́ hoàn cảnh dân tộc Việt Nam đă đắm ch́m quá lâu trong cảnh bị trị, dù của ngoại bang hay của chính người đồng chủng. Nên người dân phải t́m cách tránh né, che đậy để sinh tồn trước sức mạnh của bọn thống trị. Vấn đề đặt ra cho chúng ta cùng suy nghĩ là có nên duy tŕ măi những tiêu cực tương tự trong những sinh hoạt thường ngày của chúng ta không? Ai cũng thấy rơ một điều là sức sống của người Việt vô cùng to lớn, mănh liệt, nhưng đồng thời cũng thể hiện những tiêu cực vô cùng tai hại. Chính v́ chỉ muốn sống c̣n bằng bất cứ giá nào, người Việt đă mất đi những tích cực cần phải có, điều này đă giúp cho kể thống trị tồn tại cho đến ngày nay và là một cách giải thích tại sao dân tộc chúng ta đến nay vẫn c̣n bị bọn cộng sản vô thần thống trị.

Dù sao, nói lái vẫn là một h́nh thức vô cùng đặc sắc của ngôn ngữ Việt, với khả năng nhạy bén về tính trào phúng, tính châm chọc... chúng ta tin rằng nói lái sẽ tồn tại với người Việt. Nếu ai đó hằng quan tâm đến nền Văn học sử nước nhà, xin một lần ghé mắt đến nghệ thuật Nói lái, xem nó như một bộ phận của Văn học Dân gian Việt Nam (c̣n được gọi là Văn chương B́nh dân) kẻo uổng phí một tṛ chơi chữ tuyệt vời mà Trời đă cho và đặc biệt chỉ cho dân tộc Việt, cho ngôn ngữ Việt mà thôi.


Nguyễn văn Hiệp


Nguồn:

http://www.niemtinvietnam.net/dacsan/articles_256_N%C3%B3i-l%C3%A1i-trong-Ng%C3%B4n-nga%BB%AF-v%C3%A0-VAe%83n-ha%BB%8Dc-Via%BB%87t-Nam-Pha%BA%A7n-II.html


Trần Văn Giang (Sưu Tầm)
MĐC K68

Văn Hoá & Phong Tục MacDinhChiReunion.net / Văn Hoá & Phong Tục / Nói lái... - Nguyễn Văn Hiệp Top

Your Reply Click this icon to move up to the quoted message

 

 ?
Only registered users are allowed to post here. Please, enter your username/password details upon posting a message, or register first.
 
  MacDinhChiReunion.net Powered by Forum Software miniBB ®