· Forums · Reply · Search · Statistics ·
Văn Hoá & Phong Tục MacDinhChiReunion.net / Văn Hoá & Phong Tục /

Cách nói của người Miền Nam qua ca dao-Trần Minh Thương.

 #1 · Posted: 13 Feb 2013 18:58 · Edited by: vgtran 
vgtran
Moderator
Cách nói của người Miền Nam qua ca dao






I - Người miền Tây Nam bộ với câu nói, tiếng cười


Theo Cơ sở văn hoá Việt Nam của Trần Quốc Vượng (chủ biên), phần được coi là Tây Nam Bộ có diện tích khoảng 4.000 km2, chủ yếu là vùng đồng bằng sông Cửu Long, một số đảo (lớn nhất là đảo Phú Quốc) cùng một vài dăy núi thấp ở phía Tây An Giang, Kiên Giang.

Hầu hết các nhà văn hoá học, dân tộc học đều có chung nhận định tường đối thống nhất về tính cách người Nam Bộ. Họ là những người hào hiệp trong cuộc sống, b́nh đẳng trong giao tiếp, ít bảo thủ.

Xưa, Tây Nam bộ từ miền đất hoang vu rừng rậm, nhiều sông rạch, đầm lầy muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội tợ bánh canh, dưới sông sấu rống, trên rừng cọp um… Người nông dân Tây Nam bộ lao động cần cù, dũng cảm. Thế hệ sau tiếp nối thế hệ trước cải tạo những vùng đất bát ngát nhưng phèn chua và ngập nước, sinh sống bằng nghề trồng lúa, đánh bắt cá tôm, … Ở vùng đất giồng cao hơn th́ trồng cây hái trái, trồng tỉa hoa màu… Để tồn tại và phát triển tất yếu các gia đ́nh nông dân trong xóm ấp liên kết lại, lao động dần công cưu mang đùm bọc trong cái nghĩa bán anh em xa mua láng giềng gần, giúp đỡ nhau từ chén cơm manh áo, đến hột gạo của khoai. Nói chuyện th́ thích ăn ngay nói thẳng, ghét ăn gian nói dóc…

Nói chuyện phải rơ ràng, thẳng thắn:

Nước chảy cho đá lăn tṛn,
Giận th́ nói vậy chớ bụng c̣n thương em

Trong nghi lễ đính hôn, người ta gọi là đám nói. Ở đó hai bên sui gia “nói chuyện” tác thành cho đôi trẻ. Người con gái trong câu ca sau đây đă bộc lộ một suy nghĩ “táo bạo…” hết chỗ nói!

Ba nơi đi nói chẳng màng,
Chờ nơi chết vợ sẵn sàng nhảy vô

Tiếng nói không dừng lại ở chức năng kể lể, truyền đạt mà đối với họ nói c̣n là nghệ thuật. Độc đáo hơn chính từ lớp khẩu ngữ mộc mạc ấy, đi vào lời ngâm, câu ḥ, điệu lư…, h́nh thành nên những vần ca dao - một thể loại trữ t́nh dân gian. Khám phá từ đây, phần nào chúng ta nhận thấy được bản tính của người b́nh dân miền đất Cửu Long giang.

II - Những cách nói của người Tây Nam bộ thể hiện qua ca dao

2.1. Về mặt ngữ âm

Thứ nhất, khi khảo sát về mặt ngữ âm, chúng tôi nhận thấy ca dao Tây Nam Bộ có nhiều hiện tượng nói trại, tức là nói lệch đi cấu tạo của âm chính trong tiếng. Từ đó, tạo nên lớp từ biến âm đa dạng trong lời nói của đồng bào. Họ không nói thuyền mà thay bằng thoàn, nhơn ngăi, nhơn ngỡi, thay cho nhân nghĩa, Châu Do thay cho Chu Du (nhân vật trong Tam Quốc diễn nghĩa), bệnh thay bằng bịnh, huê thay cho hoa, luỵ thay cho lệ… Nguyên nhân th́ có nhiều: v́ kiêng huư, để kiêng dè, kính trọng, hoặc để đơn thuần chỉ hiệp vần cho thơ…

- Phụ mẫu t́nh thâm,
Phu thê nhơn ngỡi trượng,
Một mai anh có xa em rồi, thờ phượng mẹ cha

- Lao xao sóng bủa dưới thoàn
Vắng em một bữa ăn vàng không ngon

- Lụy xang xang đưa nàng xuống vịnh,
Anh trở lộn về nhuốm bịnh tương tư.

- Hai vừng nhựt ngoạt rành rành
Sao anh đứt đạn (đoạn) chung t́nh bỏ em.

Thứ hai là cách nói tránh. Gặp chuyện không hay, tránh điều thô tục, người ta thường mượn từ ngữ khác để diễn đạt, ư vẫn giữ.

C̣n duyên kẻ đón người đưa
Hết duyên đi sớm về trưa một ḿnh.

Duyên có nhiều nghĩa, nó vốn là một từ mà nhà Phật, Từ điển tiếng Việt giải thích là “cái nợ từ kiếp trước đeo đẳng lấy nhau.” Duyên có thể hiểu là sắc đẹp của người con gái mới lớn. Theo thời gian, duyên dần tàn phai. C̣n ở trường hợp này, tác giả dân gian dùng “duyên” thay cho một từ khác, chỉ nơi nhạy cảm của người con gái, cứ xem cách so sánh của chàng trai ở ngay dưới đây, giữa c̣n duyên sẽ cưới nàng bằng ba heo, c̣n mất duyên chỉ phải tốn… con mèo cụt đuôi th́ giá trị của từ duyên mà người nói cố ư tránh, đă quá tường minh.

C̣n duyên anh cưới ba heo
Hết duyên anh cưới con mèo cụt đuôi.

Thứ ba, nói bằng tiếng địa phương. Theo quy luật tồn tại của ngôn ngữ, ở miền Tây Nam Bộ cũng có những “đặc sản” của riêng ḿnh.

Ngó lên tổ nễ chau mày,
Mảnh lo sự khó quên ngày muối dưa.

Tổ nễ là tiếng lóng, cách tôn xưng chỉ ông bà, tổ tiên, xuất hiện khá phổ biến trong khẩu ngữ dân gian miền quê.

Phương ngữ trong câu ca sau, rất đáng chú ư:

Chiều mai chiều mốt anh cốt cây bần
Chẳng cho ghe cá đậu gần ghe tôm.

Anh chàng nào đó không cho người khác đến gần người con gái anh ta đă để ư. Anh ta dùng tiếng “cốt” để nói. “Cốt” có nghĩa là đốn cây, chặt cây, từ này phổ biến trong dân gian miệt Rạch Giá – Cà Mau. Cây bần là loài thực vật mà người ta xem chỉ toàn… giống đực! (Bởi rễ bần được gọi là… cặc bần!) “Cốt” cây bần là lời cảnh báo dư sức nặng dành cho những ai ham trổ ṃi với “ghe” đă có chủ!

Người Tây Nam Bộ nói hun, tức dùng mũi để… biểu lộ t́nh cảm không dùng hôn, không dùng môi, miệng để… làm việc hun!

Ước ǵ anh hoá con kiến vàng
Ḅ qua quay nón của nàng mà hun.

Dân gian nói hiếm hiệm, nghĩa của nó là đủ rồi, là bộn bàng rồi, hay chỉ sự dư dă của một thứ nào đó,

Muốn cúc chơi chậu tam hường,
Liễu huê hiếm hiệm dọc đường thiếu chi.

Dùng phương ngữ để nói ẩn ư, ngầm so sánh giữa chậu cúc tam hường và liễu hoa (huê) dọc đường. Từ hiếm hiệm đă làm tăng giá trị một chủ thể và cũng làm giảm đi giá trị một chủ thể, bởi nhiều, dư dă th́ khó gọi… quư hiếm được! Nói hiếm hiệm tức là… không hiếm vậy!

Thứ tư, nói bằng cách mượn tiếng của người Tiều (Triều Châu), bộ phận người Hoa đă di cư và định cư ở đây từ mất thế kỷ trước. Qua thực tế điền dă, chúng tôi dẫn lại mấy câu ca ở Bạc Liêu, thế này:

- Chờ anh em hết sức chờ
Chờ cho ến xại (rau muống) lên bờ khùi hui (khai huê, tức trổ bông)

- Nào khi ến thạo, hoan tùa (Khi nào thấy hơi gió lớn thổi)
Sùn hoang nghệc láo, xuốt gùa thăm em (Gió xuôi, nước ngược ra thăm em)

- Trời mưa dít ạm hoang tùa (Trời mưa, trời tối gió to)
A hia phề chuối xuốt gùa thăm em (Anh chèo ghe ngược ra thăm em)
(…)

2.2. Về mặt ngữ nghĩa

2.2.1. Nói toạc móng heo

Nói toạc móng heo là cách nói thẳng hết những sự
thật, không cần giấu giếm, che đậy. Đầu tiên là cách nói thẳng để tỏ t́nh:

Gió đẩy đưa rau dừa quặn quỵu,
Anh mảng thương nàng lịu địu xuống lên

Những tiếng mang thành trắc tạo thành vần ở hai ḍng thơ đă góp phần diễn tả một hiện thực của buổi đầu ngỏ lời trao ư, đồng thời nó cũng tả đúng t́nh cảnh khắc khổ của người chân đất chân quê! Không xao xuyến làm sao được, bởi h́nh bóng của người con gái có duyên:

Tóc ngang lưng vừa chừng em bới
Để chi dài bối rối dạ anh.

Lẽ tất nhiên, khi con tim đă rộn ràng, người trong cuộc cần nhiều hơn nữa sự chân thật, và họ bày tỏ nỗi ḷng:

Bước cẳng xuống tàu, tàu khua rổn rổn Tàu qua Nhựt Bổn lấy nước Châu Thành
Anh với em phải nói cho rành
Để anh lên xuống nhọc nhằn thân anh

Cần lưu ư, những ḍng đầu, cách dùng phương ngữ cẳng thay cho chân, hay từ tượng thanh lổn rổn như để diễn tả tâm trạng, họ chỉ mượn cớ để nói chứ không hẳn cần đúng sự thật, bởi sự thật th́ làm ǵ có nước Châu Thành, mà nó cũng chẳng liên quan đến Nhựt Bổn! Mới hay, đó là cách tạo cớ để nói, cớ không thật nhưng ḷng người th́ thẳng băng như mực tàu!

Khi tương tư, họ nói mà như bày tỏ cả gan ruột với người ḿnh yêu:

Phụ mẫu đánh anh quặt quà quặt quại,
Đem anh treo tại nhánh bần. Rủi đứt dây mà rớt xuống, Anh cũng lần ṃ kiếm em.

Lời thề được thốt lên mănh liệt:

Chẳng thà lăn xuống giếng cái chũm Chết ngủm rồi đời
Sống chi đây chịu chữ mồ côi
Loan xa phượng cách biết đứng ngồi với ai.

Hay như:

Dao phay kề cổ, máu đổ không màng
Chết th́ chịu chết, buông nàng anh không Buông.

Song không phải v́ những lời nói ngay thẳng thế mà mọi chuyện tốt đẹp vẹn toàn, người trong cuộc đă cảnh giác:

Biển Đông gió thổi bốn mùa,
Say mê lời nói thuốc bùa không hay.

Miệng đàn ông nói như tha mỡ, trơn lu, giỏi bỏ bùa các cô nhẹ dạ, v́ thế, người b́nh dân mới gửi gắm lời khuyên ấy!

Lúc tan vỡ, cô gái đă nhận ra tất cả phũ phàng nên quyết liệt tránh xa:

Bần gie, bần liệt, diệc đau chờ mồi
Anh với em duyên nợ hết rồi
Đi t́m chỗ khác đừng ngồi kế em.

Phía nam nhi chi tử cũng nhạy cảm chuyện trắc trở:

Vỗ vai con Bảy không ừ,
Hay là con Bảy giận, con Bảy từ ngăi anh.

Gọi người yêu bằng con th́ chân t́nh lắm, hành động cũng thật táo bạo, nhưng rồi anh ta chỉ nhận được sự im lặng thay cho cách trả lời từ đối tượng. Cuối cùng, có lẽ ngẫm nghĩ lại anh ta đă nhận ra sự thật!

Có trường hợp nguy hiểm hơn, ai đó, v́ lư do tế nhị đă quẩn quanh, cố giấu che một sự thật, đến khi sự thật kia bị... phát hiện:

Bậu nói với qua bậu không lang chạ,
Qua bắt đặng bậu rồi, đành dạ bậu chưa

Nói huỵt tẹc để người trong cuộc không thể “đổ thừa” nữa, dù cách “đổ thừa” cho “tại” cho “bị” vốn là câu nói cửa miệng của những người... trót lỡ lầm!

Em đi lên xuống cầu dừa
Lấy ai có chửa đổ thừa cho anh.

Có chửa hoang, là người hư đốn, là một chuyện động trời, có lẽ v́ sự chấn động kinh khủng ấy, nên mới có chuyện “đổ thừa” nhằm tránh tội chăng? Cũng là cách nói thẳng, ta gặp câu ca đáo để khác:

Nước ṛng trong ngọn chảy ra
Thấy em chồng chết anh bôn ba qua liền.

Bôn ba là tính từ chỉ sự vội vă, vội vàng trong hành động. Qua lời nói trực tiếp ấy dường như người trong cuộc đă hiểu được nỗi ḷng của người nói. Chồng em chết anh vội qua ngay để… giúp đỡ! Tất nhiên là trong cảnh goá bụa, chiếc bóng một ḿnh, có nhiều chuyện cần phải có bàn tay người đàn ông lắm! Nói thật, nói thẳng nhưng không phải là không có ẩn ư trong kiểu nói như vậy! Cảnh giác quá mức sẽ phụ ḷng của người hàng xóm tốt bụng, c̣n nếu “ngây thơ” th́ biết đâu… chấp được mối tơ thừa! Nên chăng?

2.2.2. Nói ṿng vo, nói bóng nói gió

Ở trên, chúng tôi đề cập đến cách nói tránh. Đến đây, chúng tôi phân tích chi tiết hơn cách nói bóng gió, ṿng vo Tam Quốc của người b́nh dân.

Khi gặp t́nh huống không nói thật được, đành phải nói xa xăm để đặt vấn đề:

Trời xanh bông trắng nhụy huỳnh
Đội ơn bà ngoại đẻ má, má đẻ ḿnh dễ thương.

Muốn khen một cô gái đẹp mà ḿnh vừa ư, muốn tỏ t́nh thương, nói bằng lời thật khó, không khéo dễ bị vô duyên, chối từ, như thế, mọi việc hỏng bét. V́ thế, chàng trai đă dày công bắt cầu trong cách nói. Vừa nhớ ơn bà, vừa khen má và tất nhiên là khen cả đối tượng anh ta muốn nói đến.

Hơn nữa, với cách nói lấp lửng, vô t́nh anh ta đă gọi được tiếng ngoại, tiếng má của cô gái như chính cô gái hay kêu. Thông thường, cách kêu như vậy, chỉ xảy ra khi hai người đă nên vợ nên chồng. Thật là đáng khâm phục trong cách nói ṿng vo!

Để nói bóng gió, người ta c̣n sử dụng cách nói bằng thành ngữ, điển tích

Thành ngữ:
cụm từ cố định, bền vững, có tính nguyên khối về ngữ nghĩa không nhằm diễn trọn một ư, một nhận xét như tục ngữ, mà nhằm thể hiện một quan niệm dưới một h́nh thức sinh động, hàm súc. [2; 297]

Trong ca dao Tây Nam Bộ không ít câu sử dụng thành ngữ. Do phạm vi bài viết là khảo sát cách nói, chúng tôi chỉ xem thành ngữ nhất là thành ngữ Hán Việt như một phương tiện của lời nói chứ không đi sâu phân tích chức năng của chúng.

Đây là một cách dùng thành ngữ Hán Việt trong điệu ḥ:

Thiện ác đáo đầu chung hữu báo.
Cao phi viễn tẩu dă nan tàng
Từ khi anh xa cách con bạn vàng
Cơm ăn chẳng được như con chim phụng hoàng bị tên.

Dễ hiểu hơn, nói bằng thành ngữ Hán Việt và sau đó dùng lời thơ để giải thích nghĩa cho người nghe biết luôn:

Thiên sinh nhơn hà nhơn vô lộc,
Địa sinh thảo hà thảo vô căn.
Trời sinh người đều có lộc trời,
Đất th́ sinh cỏ rễ chồi nào không.

Đi liền với thành ngữ là những điển tích. Điển tích (hay điển cố) là một biện pháp tu từ, ở đó tác giả sử dụng “câu chuyện” sao cho phù hợp với văn mạch ḿnh nhằm tạo tính hàm súc cho lời văn, ư thơ. Ca dao Tây Nam Bộ cũng vậy, không hiếm những câu chuyện trong sách sử được dùng để nói:

Ai khôn bằng Tiết Đinh San,
Cũng c̣n mắc kế nàng Phàn Lê Huê.

Tiết Đinh San, Phàn Lê Huê là nhân vật trong bộ tiểu thuyết chương hồi Tiết Đinh San chinh Tây. Hay câu ca khác:

Văng vẳng bên tai
Tiếng ai như tiếng con Điêu Thuyền? Anh đây Lữ Bố kết nguyền thuở xưa.

Lữ Bố, Điêu Thuyền là hai nhân vật trong Tam Quốc chí diễn nghĩa. Các tác phẩm vừa kể được dân gian gọi chung là truyện Tàu, thể loại văn học ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống người b́nh dân Tây Nam Bộ từ nửa đầu thế kỷ XX trở về trước.

Mượn thành ngữ, điển tích để chen vào lời nói, làm cho ư của người diễn đạt thêm sinh động, hàm súc, người tiếp nhận phải có cùng “kênh” giao tiếp th́ mới tường tận vấn đề mà người nói muốn biểu đạt! Phương tiện hỗ trợ đắc lực cho cách nói bóng gió là các biện pháp tu từ.

Một là, dùng từ đa nghĩa để chơi chữ

Em ơi hăy lấy anh thợ bào
Khom lưng ảnh đẩy cái nào cũng êm.

Rất dễ dàng nhận ra chuyện thợ bào đẩy bào để bào cây, bào ván cho bóng, cho trơn, đến chuyện đẩy theo cách nói trây, dân gian gợi nên hành động của vợ chồng chốn pḥng the!

Tương tự từ đẩy vừa phân tích, là từ cày sau đây:

Chồng em nào phải trâu cày
Mà cho chị mượn cả này lẫn đêm.

Cách nói táo bạo hơn, nhưng người nghe không thể bắt lỗi được họ:

Cu tui vừa mới mọc lông
Mượn chị cái lồng tui nhốt đỡ cu tui.

Cu là con chim gáy, lồng là vật để nhốt chim. Nhưng thật t́nh không người nghe nào chỉ dừng cách hiểu của ḿnh ở đó cả…

Chúng ta hăy nghe lời một cô gái dặn người ḿnh yêu khi chàng và nàng muốn “gần” nhau:

Chuột kêu chút chít trong rương
Anh đi cho khéo kẻo đụng giường mẹ hay.

Ngày xưa cái giường của người nhà quê là loại giường chơng đóng bằng tre già, lâu ngày thành xiêu lỏng, đụng vào đó nó kêu cót két, giống như tiếng chuột kêu chút chít. Có lẽ bà mẹ của cô gái kia đă hơn một lần chợt thức giấc, nghe tiếng chiếc giường tre kêu rúc rích, cô gái đă nhanh trí trả lời rằng đấy là do chuột ở trong rương(!) Rút kinh nghiệm, cô gái đă nhắc khéo cho t́nh nhân kẻo lỡ làng chuyện ân ái.

Hai là, người b́nh dân dùng h́nh thức so sánh, phúng dụ, ẩn dụ, hoán dụ… trong lời ca, tiếng hát.

Từ h́nh ảnh so sánh:

Thân em như cá rô mề
Lao xao giữa chợ biết về tay ai.

Cá rô mề quá đỗi quen thuộc với vùng sông nước, ruộng đồng. Mượn nó, để ví với… thân em th́ thật là dí dỏm! T́nh cảnh của người con gái ngày xưa không khác ǵ thân cá rô nằm trong rổ nhảy rồ rồ, lao xao giữa chợ. Tinh ư hơn, người nghe c̣n phát hiện cá rô mề là để liên tưởng đến chỗ kín đáo nhất của người con gái… thật là một cách nói khéo không ai bằng được người b́nh dân!

Đến cách nói phúng dụ, mượn lời con vật để thay lời người muốn nói:

Cóc chết nàng nhái rầu rầu
Chàng hiu đi hỏi lắc đầu hổng ưng
Con ếch ngồi ở gốc đưng
Nó kêu cái ẹo biểu ưng cho rồi
Nói ṿng vo nhưng là thiệt bụng, thiệt ḷng làm sao!

Rồi nói bằng ẩn dụ:

Ruộng ai th́ nấy đắp bờ
Duyên ai nấy gặp đợi chờ uổng công.

Câu ca tả thực cảnh của người nông dân chân lấm tay bùn. Song, ư người muốn nói chưa dừng hẳn ở đó. Ruộng và bờ liên quan nhau như vật sở hữu và người sở hữu. Vậy t́nh yêu, có cần phải cắm ranh, cặm cọc hay không? Có lẽ trả lời rằng “cần” phải có “bờ” có “đập” để xác lập chủ quyền, xem ra không có ǵ là quá đáng!

Hoặc dùng hoán dụ:

Nước chảy re re con cá he nó xoè đuôi phụng
Em có chồng rồi trong bụng anh vẫn c̣n thương.

Mượn từ bụng để nói cả tâm t́nh lưu luyến của cố nhân! Lấy bộ phận để nói khái quát cho cái toàn thể là vậy.

2.2.3. Nói khó

Trong giao tiếp, hay sinh hoạt người ta thường nhắc lựa lời mà nói cho vừa ḷng nhau. Thực tế th́ không phải không có những lời nói khó nghe. Mượn những câu hỏi để bộc bạch:

Gần sông cội mới ngă kề,
Tiếng tăm anh chịu, em về tay ai?

Hỏi mà không có lời đáp và chắc cũng chẳng cần ai trả lời, bởi đó là cách nói khó. Vấn đề là người nghe, cụ thể hơn là đối tượng hướng đến của giao tiếp có hiểu hay không mà thôi!

Có chồng bậu nói rằng không,
Con đâu bậu ẵm bậu bồng trên tay?

Không biết sự thể của người trong cuộc thế nào, có chịu nỗi oan Thị Kính hay không?

Nhẹ nhàng hơn, nói một cách đón ngách chặn đầu rằng:

Đá cheo leo muốn trèo sợ trợt,
Muốn nói một hai lời sợ nhột ư em?

Chia sẻ hay mỉa mai, chọc ghẹo,…, tính chất đa nghĩa ấy bộc lộ qua lời hỏi khó, dành cho người kém may mắn trong chuyện lứa đôi:

Cau già lỡ lứa bán trăm,
Chị nọ lỡ lứa biết nằm cùng ai?

Có thể t́m ra nguyên nhân của những lời hỏi khó như vậy là v́ cuộc sống vốn không thiếu người có tính này, ư khác:

Bậu đừng ăn nói đảo điên,
Cái áo bậu bận cũng tiền anh cho?

Nhiều lúc, những câu hỏi trong lời nói khó đă nâng lên thành triết lư trong quan hệ giữa người với người trong xă hội:

- Nước không chưn sao gọi rằng nước đứng,
Chén của người sao gọi chén chung?

- Ai từng bận áo không bâu,
An cơm không đũa, ăn trầu không vôi?

- Chim bay mỏi cánh chim ngơi,
Đố ai bắt đặng chim trời mới ngoan.

2.2.4. Nói cho hả dạ, nói cho đă tức

Từ nói khó chuyển sang nói cho hả, nói để trút cơn tức giận.

Miệng đuổi chim, tay cầm cần vụt
Măn mùa rồi xí hụt anh ơi.

Thế là công lao bao nhiêu tháng ngày vun quén giờ bị đem bỏ sông bỏ biển. Ai mà không buồn, không đau, không tức trào máu, nhưng biết ai chia sẻ, thôi th́ cứ nói lên, hét lên cho hả hê!

Họ nói như mỉa mai, cười cho sự chua chát của thân phận ḿnh:

Anh tưởng giếng sâu anh nối sợi dây cụt
Ai dè giếng cạn nó hụt sợi dây
Qua tới đây không cưới được cô hai mày
Qua chèo ghe ra biển đợi nước đầy qua chèo trở vô.

Bằng cách nói ngược: giếng sâu – dây cụt, rồi giếng cạn – hụt sợi dây, dường như để ám chỉ sự đổi trắng thay đen của thói đời, đă vậy, dại ǵ chết đi cho uổng!

Tiếng nói của sự khao khát yêu đương, tiếng nói cũng những chuyện oái oăm được dân gian thể hiện:

Con gái mười bảy mười ba
Đêm nằm với mẹ, khóc la đ̣i chồng
Mẹ giận mẹ phát ngang hông:
“Đồ con mất nết đ̣i chồng suốt đêm!”

Có lúc nói cho hả ḷng, nói cho mọi người biết, v́ chỉ cần lơ là một chút, người chủ quan đă bị bạn bè, lối xóm ra tay hăm hại:

Mảng coi con quạ rỉa lông,
Chị em lân cận giựt chồng không hay.

Hướng đến đối tượng tiếp nhận chính là người ḿnh yêu ngày trước. Nay anh đă không vẹn chung t́nh, anh bỏ em đi cưới vợ khác, anh hăy nghe đây:
[font#006600]
Bần gie bần liệt đóm đậu ngọn bần
Anh đi cưới vợ em vái cho sóng thần nhận ghe.

Đúng, rất chính xác, chỉ có những cô em gái quê rang quê rít, tóc dài bỏ xoă, bận áo bà ba (lời một bài dân ca ở Sóc Trăng) mới có trực tính để bật thành tiếng nói như vậy!

Với cảnh ngộ khác, một anh chàng thật tội nghiệp, trút giận:

Bờ bụi tối tăm, anh quơ nhằm cái tộ bể
Cưới vợ có chửa về thổi lửa queo râu.

Thật trớ trêu, ai nghe mà chẳng cảm thông cho chuyện nhầm lẫn tai hại đó.

Với kết cấu đối đáp, ta gặp một lời chọc ghẹo của chàng trai lắm môi mép:

Trời mưa cho ướt ruộng g̣
Thấy em chăn ḅ anh để ư thương.

Cô gái chẳng vừa, tát lại ngay:
[font#006600]
Trời mưa ướt cọng rau mương
Ḅ em, em giữ anh thương cái giống ǵ?

Độc hơn ở cách nói nước đôi, cụm từ anh thương cái giống ǵ vừa chỉ giống… người (là em) vừa chỉ giống… ăn cỏ! Vậy mới chết chớ!

Cọc tính hơn, cô gái lớn tiếng rủa kẻ ve văn ḿnh:

Dê xồm ăn lá khổ qua
Ăn nhầm lá đậu chết cha dê xồm.

Đảo lại, cũng trong lời đối đáp, nhưng lần này “phần thắng” nghiêng về phía chàng trai:

- Áo vắt vai đi đâu hăm hở,
Em có chồng rồi mắc cỡ lêu lêu.

- Áo vắt vai anh đi dạo ruộng,
Anh có vợ rồi chẳng chuộng bậu đâu.

Tiếng nói uất nghẹn c̣n hướng đến những đối tượng đă gây ra nhiều chuyện phiền toái:

Quất ông tơ cái trót
Ổng nhảy tót lên ngọn cây bần
Biểu ông se mối chỉ năm bảy lần, ổng không se.

2.2.5. Nói cà rỡn

Cà rỡn là lời nói với chức năng đùa vui, không thể hiển sự giọng cao thấp, cạnh khoé. Chàng trai thấy cô gái dễ thương, bèn bông lông rằng:

Nước Láng Linh chảy ra Vàm Cú
Thấy em chèo cặp vú muốn hun.

Quả là lời tỏ t́nh trắng trợn, muốn chuyện… rất nhạy cảm mà dám cất thành lời, nhưng xét cho cùng đối tượng cần nghe h́nh như không nghe thấy, người dưới sông, người trên bờ, khoảng cách quá xa… Có lẽ, khi gần nhau chẳng ai dám nói kiểu… đó! Nhưng cũng chẳng sao, nếu bị phản ứng, anh ta sẽ dễ dàng ứng phó, theo kiểu “tán gái”:

Bới tóc cánh tiên, bỏ ṿng lá liễu
Thấy miệng em cười trời biểu anh thương.

Nhiều khi, tỏ t́nh không được th́ làm liều kiểu Chí Phèo yêu Thị Nở (nhân vật của Nam Cao), nói chơi cho vui, ai nghe được th́ cứ xem là câu nói giễu, để cười, song không phải v́ thế mà không có ẩn t́nh:

Tui hun ḿnh, dẫu ḿnh có la làng
Th́ tui la xóm hai đàng la chung
Tui hun ḿnh dẫu có làm hung
Nhơn cùng tắc biến tui chun xuống sàn.

Ở cảnh ngộ khác, có lẽ chàng trai đă “để ư” đến người ḿnh thương nhiều lắm, nhưng anh ta không dám mở lời. Anh chàng mượn con cua để nói khơi khơi:

Con cua càng ḅ ngang đám bí
Nó với chị mày giờ tí qua qua.

Chức năng bông đùa của câu ca này theo chúng tôi nằm ở mốc thời gian hẹn ước. Giờ tư là canh ba, mọi người đă yên giấc ngủ, anh ta lại “qua” để gặp chị mày th́ chắc là sẽ… có chuyện!

Trong kết cấu đối đáp cũng có những câu lém lỉnh, cà rỡn:

- Ai mà bày đặt dị kỳ
Áo bà ba may hai túi đựng giống ǵ hở anh.

- Ba má bày đặt cho anh
Áo bà ba may hai túi đựng dầu chanh o mèo.

Một trường hợp hỏi – đáp khác:
ước mắm ngon dầm con cá bẹ
Anh biểu em ŕnh lén mẹ qua đây!

Nói như đùa chơi kiểu đó, người Tây Nam bộ gọi là nói giỡn. Chàng nói kiểu giỡn chơi th́ nàng cũng đáp kiểu giỡn chơi.

Nước mắm ngon dầm con cá đối
Em biểu anh chờ để tối em qua.

Chưa biết sự thể sẽ ra sao, chỉ có điều nói là để… chơi, vậy thôi!

Khi nói cà rỡn, yếu tố tục, những từ ngữ gợi đến những bộ phận trên cơ thể của con người được tận dụng triệt để. Phần trên chúng tôi đă dẫn câu ca mà chàng trai.. muốn hun! Đến đây, thấy cần bổ sung mấy ví dụ nữa để bài viết thêm sinh động:

Thân anh lỡ dại hai lần
Nhỏ măn vú mẹ, lớn mằn vú em.

Cách nói tếu táo của chủ thể phát ngôn khi anh ta nhận ḿnh là dại nhưng thật ra th́ là khôn đấy, một cách nói ngược đáng nghe!

Tiếu lâm hơn là lời của “ông” anh rể:

Giữa trưa đói bụng thèm cơm
Thấy đùi em vợ như tôm kho tàu.

Đem “đùi” của cô em vợ nơn nà so sánh với “tôm kho tàu” giữa khi bụng đói… th́ thật là chỉ có anh ta dám nói những điều mà nhiều người nghĩ, nhiều kẻ muốn, nhưng không ai dám… giỡn kiểu đó!

Sau hết, xin dẫn một câu ca có miêu tả trực tiếp yếu tố sinh thực khí của nữ giới:

Cô kia cấy lúa Nanh Chồn
Chổng mông cô để cái l… cô lên

III - Chức năng của cách nói trong ca dao

Những biểu hiện của cách nói trong ca dao mà chúng tôi vừa liệt kê đă góp phần quan trọng để các nhà thi pháp học khẳng định ca dao là câu thơ điệu nói, nó mang ngữ điệu người, giọng điệu người, thể hiện đa dạng các cung bậc, cảm xúc trong tâm hồn con người.

Chính từ những cách nói bằng ngữ điệu ấy đă đem đến cho ca dao hơi thở rất riêng, dù đặc trưng thể loại đă làm cho tính cá nhân bị xoá nhoà.

- Bên dưới có sông, bên trên có chợ
Hai đứa ḿnh kết vợ chồng nghen.

- Thấp đăng cá nhảy qua lờ
Anh đừng xí gạt em chờ uổng công.

- Tưởng rằng anh tới anh chơi
Ai dè anh tới kết đôi vợ chồng.

Những từ vốn dĩ quen thuộc trong lời nói hàng ngày như “nghen,” “xí gạt,” “ai dè…” đă làm cho lời ca lung linh như chính họ nghĩ, họ làm, họ nói…

Ai đó từng “chê” cụ Đồ Chiểu sao để cho Vân Tiên “ừ” trước mặt nàng Nguyệt Nga xinh đẹp trong truyện thơ Lục Vân Tiên (Vân Tiên ngó lại rằng: ừ), th́ hăy nghe đây, cách nói, cách tỏ bày t́nh cảm trong dân gian miệt này:

Ngó lên chữ ứ, ngó xuống chữ ư,
Anh thương em hổng thẳng em ừ,
Anh đừng thương vội mẫu từ em hay

C̣n đây là lời của một cô vợ trong cảnh gia đ́nh chồng một vợ hai:

Vợ lớn đánh vợ nhỏ, Chạy ra cửa ngơ,
Ngóng cổ kêu trời!
Ớ anh ơi?
Nhứt phu lưỡng phụ, ở đời đặng đâu?

Cuối cùng, chúng tôi mượn câu ca mùi mẫn bậc nhất chốn ruộng đồng dưới đây để thay lời tiểu kết:

Con cá làm nên con mắm
Vợ chồng già thương lắm ḿnh ơi!


IV - Kết luận

Người Tây Nam Bộ bộc trực, thẳng thắn, nhưng cũng rất tinh tế, khéo léo trong ứng xử. Họ sẵn sàng đùa cợt, cười rần để xua tan đi những nỗi nhọc nhằn trong quá tŕnh chinh phục thiên nhiên hoang dại. Và lời nói là nơi thổ lộ rơ ràng nhất.

Lời nói là phương tiện không thể thiếu trong giao tiếp. Trong giao tiếp lại bộc lộ văn hoá ứng xử của người b́nh dân. Hơn thế, lời nói đă đi vào lời ca, tiếng hát, nó góp phần làm lung linh thêm những “hạt ngọc” tinh thần của người dân quê chơn chất. Từ lời nói dân gian, chúng ta c̣n phải học tập nhiều lắm ở họ:

Chim khôn kêu tiếng rănh rang
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.


__________________
Tài Liệu Tham Khảo:


1. Lê Văn Đức, Việt Nam tự điển, Nhà sách Khai
Trí, Sài G̣n, 1970.

2. Lê Giang (sưu tầm – sưu tập – biên soạn), Bộ
hành với ca dao, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 2004.

3. Lê Bá Hán - Trần Đ́nh Sử - Nguyễn Khắc Phi
(đồng chủ biên), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb
Giáo dục, Hà Nội, 2007.

4. Nguyễn Lực – Lương Văn Đang, Thành ngữ
Tiếng Việt, Nxb Khoa học Xă hội, Hà Nội, 1976.

Và những câu ca dao sưu tầm từ điền dă dân gian của tác giả bài viết.


Trần Minh Thương
Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam


Nguồn: "Nam Kỳ Lục Tỉnh" Website



Trần Văn Giang (Sưu Tầm)
MĐC K68

Văn Hoá & Phong Tục MacDinhChiReunion.net / Văn Hoá & Phong Tục / Cách nói của người Miền Nam qua ca dao-Trần Minh Thương. Top

Your Reply Click this icon to move up to the quoted message

 

 ?
Only registered users are allowed to post here. Please, enter your username/password details upon posting a message, or register first.
 
  MacDinhChiReunion.net Powered by Forum Software miniBB ®