· Forums · Reply · Search · Statistics ·
Văn Hoá & Phong Tục MacDinhChiReunion.net / Văn Hoá & Phong Tục /

Ư Nghiă Của Hai Chữ “Cải Lương - Nguyễn Tuấn Khanh

 #1 · Posted: 31 May 2014 02:06 · Edited by: vgtran 
vgtran
Moderator
Ư Nghiă Của Hai Chữ “Cải Lương”[1]



Ḥa ước Giáp Tuất được kư ngày 18-3-1874, toàn cơi miền Nam trở thành thuộc địa của Pháp. Bốn năm sau đó, ngày 6-4-1878, thống đốc Nam Kỳ là phó đề đốc Hải quân Pháp Louis Lafont ban hành nghị định, kể từ ngày 1-1-1882 bắt buộc tất cả những giấy tờ hành chánh như công văn, nghị định, sắc lệnh, án ṭa v.v… không được viết bằng chữ Hán nữa, mà phải viết bằng mẫu tự La Tinh, tức là chữ Pháp hoặc chữ Quốc ngữ. Ngoài ra, những người muốn vào làm việc cho các cơ quan nhà nước ở các cấp phủ, huyện, tổng phải biết chữ Quốc ngữ. Thời gian ban hành nghị định và thời gian thi hành cách nhau 4 năm để có đủ thời gian tổ chức giáo dục. Chương tŕnh cho bậc tiểu học Pháp-Việt là 6 năm, 3 năm đầu học sinh được học 3 thứ chữ là chữ Nho, Pháp và Quốc ngữ, nhưng 3 năm sau chỉ c̣n học chữ Pháp và Quốc ngữ mà thôi. Kể từ đây, người Việt được học theo hệ thống giáo dục của Pháp và bắt đầu làm quen với phong tục và văn hóa Tây phương. Kết quả của sự cưỡng bách giáo dục này là đến cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, tại Việt Nam đă có nhiều người theo tân học. Nhờ tiếp xúc với nền văn minh Tây phương, những người theo tân học này, trong đó bao gồm cả những nhà cách mạng, nhà báo và và các nhà trí thức nhận thấy xă hội Việt Nam c̣n thua kém nhiều nước trên thế giới nên đă có nhiều phong trào kêu gọi dân Việt nên canh tân, đổi mới ngơ hầu theo kịp nền văn minh tiên tiến và danh từ “Cải Lương” đă bắt đầu được nhiều người biết đến.

Nếu giải thích theo định nghĩa thông thường của tự điển bằng cách cắt nghĩa riêng từng chữ Hán Việt “cải” có nghĩa là “sửa đổi” và “lương” có nghĩa là “tốt lành” rồi ghép lại th́ hai chữ “Cải Lương” có nghĩa là “sửa đổi cho trở nên tốt hơn”. Định nghĩa đó quả đúng như hoài băo của Lương Khắc Ninh khi ông muốn “Cải Lương” lại bộ môn Hát Bội vào những năm 1916, 1917 v́ lối diễn xuất cùng hát xướng của các đào kép hát bội ngày càng sút kém, nên ông kêu gọi chấn chỉnh lại lối hát cùng diễn xuất cho hay như xưa. Tuy nhiên, vào những thập niên cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, hai chữ “Cải Lương” tại Việt Nam có một định nghĩa khác, được dùng trong nhiều trường hợp để chỉ sự “Thay Cũ Đổi Mới”, kêu gọi “Duy Tân” theo nền văn minh Tây phương, thí dụ như “Cải Lương Hương Chính”: tổ chức hành chánh làng xă theo lối mới; có hợp tác xă, “Sử Kư Cải Lương”: viết sử theo phương pháp Tây phương theo diễn biến sự việc, thay v́ viết theo niên biểu; “Đám Tang Cải Lương”: tang lễ làm theo nghi thức Tây phương; “Thiên Chúa Cải Lương”: đạo Protestantisme (đạo Tin Lành, người Trung Quốc gọi là Tân Giáo); “Quốc Âm Cải Lương”: dùng chữ quốc ngữ để phiên âm tiếng ngoại quốc thay v́ dùng Hán Việt (thí dụ: cà phê, ba ton, bánh bích quy…), “Cúp Tóc Cải Lương”: hớt tóc ngắn thay v́ để búi tóc ; “Chèo Cải Lương” tức “Chèo Văn Minh”: hát chèo trên sân khấu ở rạp có bài trí phông màn như sân khấu thoại kịch Tây phương thay v́ hát ở sân đ́nh, phục trang cải tiến v.v…

Các sách báo thời đó khi dịch hai chữ “Cải Lương” ra tiếng Pháp th́ họ dùng từ “Modernes” có nghĩa là “hiện đại hóa”. Tác giả Trung Trực đă viết trong báo Lục Tỉnh Tân Văn ngày 9-2-1923 bài “T́nh Trạng Cải Lương Của Người Ḿnh” như sau:

“Đang buổi phong trào thay cũ làm mới, cái tiếng cải lương xuất hiện ở xứ ḿnh, nghe ra ngày một cổ vơ vô cùng, trong dân bất cứ là làm những việc ǵ, đều mượn cái tiếng cải lương bịa vào để nghe cho đẹp! Nào là nghề diễn kịch cũng cải lương, cuộc tuyển cử Nghị viên quản hạt cũng cải lương, việc hôn, quan, tang, tế cũng cải lương, vân vân; nên làm những việc chi hễ bịa vào tiếng nói cải lương được, th́ trong trí vẫn trộm tưởng rằng việc ấy đă thập phần hoàn mỹ, không c̣n điều chi phải ái ngại nữa. Mà thật thế, phàm việc ǵ đă gọi rằng cải lương, th́ cả thảy ai ai cũng phải nh́n cho là việc hoàn mỹ vậy. Nhưng mà, nếu có ai là người ưu thời mẫn tục, lưu tâm chính xét đến hiện t́nh cải lương tấn bộ của người nước ḿnh, th́ người ấy ắt phải châu mày về nỗi lễ nghi trật tự nước nhà ngày kia phải điên đảo cũng bởi cái tiếng cải lương đó đi mà chớ. Là bởi tiếng cải lương của người ḿnh đang dùng đó, phần nhiều chưa thấy có cái hiệu quả ǵ vào đường khai trí tấn đức của quốc dân, mà xét kỹ ra, th́ cũng phần nhiều h́nh như đem việc tệ nay mà thay vào việc tệ xưa, hoặc đem một việc mới không cần dùng mà đổi phứt đi với một việc cũ đă giúp ích cho nước nhà xă hội ta từ xưa một nền luân lư rất đẹp đẽ vô cùng.

Nghĩ ra, th́ cái tiếng cải lương của dân ta đang hâm mộ, đang trọng dụng bây giờ đó, ví khác nào một gă dung y kia ham dùng những vị thuốc độc ấy đâu. Mà quả làm vậy, cái hại của những người chưa có trí dục và đức dục mà lạm dùng hai chữ cải lương, th́ có khác nào cái hại của bọn dung y chưa thông tánh dược mà lại ham dùng những vị thuốc độc.”


Đến giữa thập niên 1910, tại miền Nam có nhiều tỉnh đă lập ra những hội Khuyến Học với mục đích là khuyến khích và giúp đỡ dân Việt trong việc theo tân học, cải tiến canh nông, thương mại, kỹ nghệ v.v… Năm 1916, hội Khuyến Học Long Xuyên do đốc phủ Lê Quang Liêm, c̣n gọi là Đốc phủ Bảy làm hội trưởng lập ra “Cải Lương Kịch Xă”, thành viên là những nhà trí thức, thông ngôn, kư lục để tŕnh diễn những vở kịch nói bằng tiếng Pháp và tiếng Việt cho công chúng xem.

Trong buổi tiệc mừng ngày 16-9-1917 tại nhà hàng Soái Ḱnh Lâm ở Chợ Lớn để đón tiếp hội Khuyến Học Long Xuyên lên Sàig̣n, Nguyễn Chánh Sắt đă tóm tắt sứ mạng của các hội Khuyến Học như sau:

“Tôi nghĩ v́ Khuyến Học Hội là chỗ giáo dục nhân tài, chư Báo Quán là nơi quảng khai dân trí, c̣n Cải Lương Kịch Tràng là chỗ điểm hóa nhân tâm. Nếu ba nhà ấy mà liên hiệp với nhau, lo t́m điều công ích mà phổ hóa cho đồng bào, dường ấy th́ cái tiền đồ của quốc dân ta mới thấy mon men tới bến văn minh mà vẻ vang trong hoàn vơ”.



Đốc phủ Lê Quang Liêm (người đứng giữa mặc áo gấm) và các viên chức trong hội Khuyến Học Long Xuyên

Nhóm “Cải Lương Kịch Xă” này tŕnh diễn lần đầu tại Long Xuyên nhân ngày quốc khánh Pháp 14-7-1916. Năm sau, cũng vào ngày quốc khánh Pháp 14-7-1917, “Cải Lương Kịch Xă” tŕnh diễn vở kịch “V́ Nghĩa Quên Nhà” bằng hai thứ tiếng Việt và Pháp do Đốc phủ Bảy và Hồ Văn Trung (Hồ Biểu Chánh) sáng tác để lấy tiền giúp cho cô nhi quả phụ trong trận thế chiến lần thứ nhất. Buổi tŕnh diễn này rất thành công, được cả người Pháp lẫn người Việt ca ngợi nên hội Khuyến Học Long Xuyên tiếp tục lên Sàig̣n tŕnh diễn tại rạp hát bóng Eden vào hai ngày 11 và 12 tháng 9 năm 1917.

Hai chữ “Cải Lương” dùng để chỉ bộ môn kịch nghệ sân khấu lần đầu được báo chí nhắc đến trong dịp này. Lần thứ nhất Nguyễn Chánh Sắt viết trong bài giới thiệu “Cải Lương Kịch Xă” trong “Nông Cổ Mín Đàm”:

“Bổn quán xin nhắc lại cho liệt vị rơ rằng bạn hát Cải Lương nầy toàn là mấy thầy trong hội Khuyến Văn tỉnh Long Xuyên làm tuồng, đều là người có học thức, chớ chẳng phải như hát bội Annam mà chúng ta xem thường tự thuở đến nay đâu”.
(Nông Cổ Mín Đàm ngày 6-9-1917)

Lần thứ nh́ là trong bản tin tường thuật cuộc hát tại G̣ Vấp:
“Cuộc hát làm phước tại G̣ Vấp:


Đêm 20 Septembre 1917 rồi đây cuộc hát làm phước của mấy ông Hội đồng quản hạt bày ra tại rạp hát Cải Lương G̣ Vấp, thâu được ba trăm mấy chục đồng, và đă dâng liền cho hội Ái Quốc Sàig̣n và để tế cấp cho những trẻ mồ côi v́ cuộc binh tai bên Âu Châu”.
(Nông Cổ Mín Đàm ngày 18-10-1917)

Lần thứ ba đề cập trong lời giới thiệu bài ca Tứ Đại khuyên đồng bào giúp cô nhi quả phụ:

“Bổn quán xin nhắc lại rằng trong đêm 12 Septembre 1917, là đêm Hội Khuyến Học Long Xuyên diễn tuồng Cải Lương tại rạp hát Cô Tám ở Chợ Lớn, trong khi đổi lớp tuồng th́ có đờn tài tử và ca”. (Nông Cổ Mín Đàm ngày 6-12-1917)

Như vậy, hai chữ “Cải Lương” được dùng cho bộ môn sân khấu bắt nguồn từ bộ môn Kịch Nói do hội Khuyến Học Long Xuyên khai sinh với nhóm “Cải Lương Kịch Xă” là để “diệt tục phong di theo lối văn minh thời đại”. Bộ môn kịch nói được gọi là “Cải Lương” này là tŕnh diễn theo lối “văn minh” của kịch nghệ Tây phương đă được Nguyễn Chánh Sắt giải thích rơ ràng như sau:

“Vả chăng trong cuộc hát xướng mà cải lương theo lối văn minh thời đại này, th́ vẫn có ba điệu: Một là Opéra (Ô-bê-ra); Hai là Opérette (Ô-bê-rết); Ba là Comédie (Cô-mê-di)[2]. Opéra là tuồng hát ṛng Nam Khách ngâm nga, có múa nhảy và có đờn ca nhạc trổi từ đầu tuồng cho đến văn; Opérette là tuồng hát có Nam Khách ngâm nga mà cũng có khi diễu cợt; c̣n tuồng Comédie cũng như tuồng đồ để mà bao biếm phong tục, và cũng có làm tṛ diễu chơi cho vui dạ kẻ khán tràng.

Nay Hội Khuyến Học Long Xuyên mà hát đó là hát tuồng Comédie (Cô-mê-đi) rồi lần lần đây sẽ đặt tuồng thêm mà hát cho đủ ba điệu cho được trọn tốt trọn lành, chớ nay mới khởi ra th́ làm sao cho toàn hảo được”.
(Nguyễn Chánh Sắt, “Cuộc Hát Cải Lương”, Nông Cổ Mín Đàm, 27-9-1917).

Vở “V́ Nghĩa Quên Nhà” tuy không phải là vở kịch đầu tiên viết bằng tiếng Việt, nhưng nhờ có sự tŕnh diễn của các vị trí thức trong nhóm “Cải Lương Kịch Xă” của hội Khuyến Học Long Xuyên cùng với sự phổ biến rộng răi của báo chí thời đó nên được nhiều người biết đến. Lối diễn xuất tự nhiên cùng với lời đối thoại trong sáng, dễ hiểu, khác xa với bộ môn hát bội nên đă được đón nhận nhiệt liệt, mở đầu cho một luồng gió mới trong bộ môn kịch nghệ Việt Nam.

Trước đây cũng đă có nhiều nơi diễn những vở kịch của Pháp, hoặc bằng tiếng Pháp, hoặc được dịch ra tiếng Việt, nhưng thường là trong phạm vi của những trường học hoặc nhà thờ, chưa được phổ biến rộng răi trong công chúng v́ nội dung những vở kịch đó thường mang tính cách học đường hoặc tôn giáo. Thỉnh thoảng trên báo chí cũng có đăng những vở kịch bằng tiếng Pháp được dịch sang tiếng Việt, nhưng văn phong của những vở kịch dịch đó vẫn c̣n chịu ảnh hưởng của lối viết tuồng hát bội. Thí dụ như trong Nông Cổ Mín Đàm có đăng những vở kịch dịch từ tiếng Pháp của Nguyễn Ngọc Ẩn như “Con Khỉ Hát Bóng” ngày 14-11-1914, “Gà Và Vịt” ngày 9-2-1915 và “Nhuệ Minh Kê” ngày 10-2-1916. Vở “Nhuệ Minh Kê” được dịch ra từ vở kịch Chantecler (1910) của thi sĩ kiêm kịch tác gia người Pháp là Edmond Rostand, diễn tả cuộc đối đáp của con gà trống cắt nghĩa cho con chim trĩ nghe về việc gà trống gáy sáng đánh thức mặt trời dậy. Vở kịch này rất nổi tiếng và hiện nay được coi như là một trong những vở kịch kinh điển của bộ môn kịch nghệ đầu thế kỷ 20. Sau đây là một phần trích đoạn của vở “Nhuệ Minh Kê” do Nguyễn Ngọc Ẩn dịch, ta thấy vẫn c̣n văn phong cùng những câu “hường”, “vĩ” của hát bội:

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Thư Trĩ kinh hoàng nhi viết:
Húy cha chả!

Nhuệ Minh Kê viết:
Và cái tiếng gáy của ta
Đă chắc rồi chỗ thắng không sai,
Liền trổi tới giọng hùng thêm rơ,
Càng nghe càng ó
Càng lóng càng oai
Chơn trời mù sảng sốt thừa sai,
Vừng mây ửng nhộn nhàng phụng lịnh!

Thư Trĩ viết:
Húy cha chả!

Nhuệ Minh Kê viết:
Ta gáy lên, chừng đó th́
Đêm hắc ám cầu ḥa dua nịnh
Mượn huỳnh hôn hối lộ tà tây;
Dẫu thế nào, ta cũng không nghe;
V́ nghĩa nọ, ta th́ cứ gáy!
Rồi phút chốc...

Thư Trĩ viết:
Húy cha chả!

Nhuệ Minh Kê viết:
Ta thối lui, lạ bấy!
Thoạt ḿnh đà rực rỡ, xinh thay!
Ta đây. Chẳng qua là đứng giữa quần kê
Mà lại đă làm lên mặt nhựt!

Thư Trĩ viết:
Té ra, đó là trọn cả cái điều bí nhiệm nó làm cho mi gáy sao?


Nhuệ Minh Kê viết:
Ấy cũng bởi v́ ta dám chắc
Rằng nếu mà không mỗ đảm đương
Th́ hẳn ḥi ở phía Đông phương
Sẽ mê mẩn yên ṿng hắc tịch!
Ta nào ráng “ó o” thích lịch
Đặng mà xin eo éo lôi đồng!
Ta chỉn v́ quang diệu gia công,
Dễ nào tưởng vinh hoa cần tác.
Gáy là hẳn phép ta công phạt
Gáy là rành lẽ mỗ tư lương;
Và nếu mà trong. Tiếng tầm thường, giọng mỗ phi thường,
Ấy là chỉn v́ ta. Gáy minh bạch, cho trời thanh bạch!

Những vở kịch do nhóm “Cải Lương Kịch Xă” diễn đă không c̣n ảnh hưởng theo lối viết văn của hát bội nữa v́ những vị trong hội Khuyến Học Long Xuyên là những người theo tân học và họ đă từng diễn những vở kịch của Pháp bằng tiếng Tây trước đó rồi. Sau đây là lớp thứ nhất của vở tuồng “V́ Nghĩa Quên Nhà”[3] do Lê Quang Liêm và Hồ Biểu Chánh sáng tác:

Lớp nhứt

Giở màn ra th́ thấy Lê Hiền Sĩ đương ngồi dạy con trai lớn và con gái học dựa bàn. Cô Thông ngồi may trên bộ ván, c̣n đứa con trai nhỏ nằm ngủ một bên.


Lê Hiền Sĩ: Con dạy hoài cũng vậy. Làm toán mà viết không ngay hàng cộng làm sao được?

Ngọc Anh: Tại cha không gạch mà ai viết cho ngay được?

Hiền Sĩ: Đâu, đưa tao viết lại cho mà cộng.

(Hiền Sĩ lấy giấy viết rồi đưa lại cho con gái)

Hiền Sĩ: Đây, cộng đi.

Ngọc Anh: Bảy với chín là... là...

Hiền Sĩ: Mấy?

Ngọc Anh: Mười lăm.

Hiền Sĩ: Cộng sao mà mười lăm? Con nầy muốn tao bộp tai bể đầu?

(Ngọc Anh mếu và tay dụi con mắt)

Hiền Sĩ: Bây giờ mầy ngồi đó khóc hay sao?

Trần Thị Oanh: Cha nó nạt om ṣm, con nó hết hồn, nó học sao được?

Hiền Sĩ: Đồ ngu quá, không rầy sao được?

Thị Oanh: Thủng thẳng mà dạy nó chớ!

Hiền Sĩ: Mẹ nó tài nói giỏi hoài. Đâu mẹ nó dạy thử nó, rồi coi có nóng hay không?

Thị Oanh: Đă biết ḿnh dạy con ḿnh th́ sao ḿnh cũng muốn nó mau giỏi. Hễ nó không hiểu th́ sao ḿnh cũng giận. Vậy ḿnh mà biết dằn ḷng, ḥa huỡn mà dạy nó được mới hay chớ!

Hiền Sĩ: Hứ! Thánh Hiền xưa c̣n phải nóng, lựa là tôi. Hèn chi cổ nhơn diệt tử nhi giáo cũng phải.

(Chú Bếp hầu ngoài cửa bước vô xá thầy thông và thiếm thông)

Hiền Sĩ: Có chuyện chi hay chú Bếp?

Bếp hầu: Dạ, bẩm thầy quan lớn chánh cho mời thầy.

Hiền Sĩ: Ủa! Chúa nhựt mà có chuyện chi hay chú?

Bếp hầu: Dạ, bẩm tôi không biết. Quan lớn mới được cái giây thép rồi hối tôi đi mời thầy đây.

Hiền Sĩ: Quan lớn ở nhà tư hay là nhà hầu?

Bếp hầu: Bẩm trên nhà tư.

Hiền Sĩ: Ừ! Thôi chú về đi, để tôi thay đồ rồi tôi lên sau.

Bếp hầu: Bẩm thầy tôi về, bẩm cô tôi về.

(Bếp hầu đương bước ra, Hiền Sĩ đương đứng dậy bước vô buồng th́ màn kéo lại)


Với những lời đối thoại như vậy và cách diễn xuất mới lạ, những vở kịch do nhóm “Cải Lương Kịch Xă” tŕnh diễn đă mau chóng được mọi người chấp nhận. Tuy nhiên, ta cũng phải thừa nhận rằng cũng nhờ có trận thế chiến lần thứ nhất nên mới có nhu cầu lạc quyên giúp đỡ cô nhi quả phụ trong trận chiến, những hội đoàn như hội Khuyến Học, hội Nhà Báo mới có cơ hội tŕnh diễn những vở kịch mới để quảng bá trong quần chúng. Sau này, khi nhắc đến Hồ Biểu Chánh, người ta thường nhớ tới ông với tư cách là một nhà văn, nhà báo mà quên một điều là ông cũng là một trong những kịch tác gia tiên phong trong việc Việt hóa bộ môn kịch nghệ của Pháp. Hồ Biểu Chánh cũng đă đóng góp nhiều trong công cuộc “cải lương” nghệ thuật sân khấu miền Nam khi tham gia cuộc quốc trái lần thứ tư vào năm 1918. Trong cuộc quốc trái đó, không những Hồ Biểu Chánh đă đóng một vai trong tuồng “Pháp Việt Nhứt Gia” với lối tŕnh diễn mới, ông c̣n cho tŕnh diễn vở kịch nói “Phú Nhi Háo Nghĩa” do ông sáng tác để giới thiệu một loại nghệ thuật sân khấu mới lạ cho người dân vùng Nam Kỳ lục tỉnh. Bên cạnh Hồ Biểu Chánh, công của đốc phủ Lê Quang Liêm cũng không nhỏ khi ông cho lập nên “Cải Lương Kịch Xă” để diễn những vở kịch mới, mở đường cho sự ra đời của nghệ thuật sân khấu “Cải Lương” sau này.

_______
Ghi Chú:


[1] Nguyễn Tuấn Khanh, Bước Đường Của Cải Lương, California-USA, Viện Việt-Học, 2014, trang 83.

[2] Opéra = Nhạc kịch, Opérette = Ca kịch, Comédie = Hí kịch

[3] Lê Quang Liêm - Hồ Biểu Chánh, V́ Nghĩa Quên Nhà, Saigon, Imprimerie Moderne S. Montégout, 1917.


Nguyễn Tuấn Khanh

Nguồn: "Nam Kỳ Lục Tỉnh" Website (http://namkyluctinh.org/a-nghethuat/nghethuat.html )


Trần Văn Giang (Sưu Tầm)
MĐC K68

Văn Hoá & Phong Tục MacDinhChiReunion.net / Văn Hoá & Phong Tục / Ư Nghiă Của Hai Chữ “Cải Lương - Nguyễn Tuấn Khanh Top

Your Reply Click this icon to move up to the quoted message

 

 ?
Only registered users are allowed to post here. Please, enter your username/password details upon posting a message, or register first.
 
  MacDinhChiReunion.net Powered by Forum Software miniBB ®