· Forums · Reply · Search · Statistics ·
Linh Tinh & Biên Khảo MacDinhChiReunion.net / Linh Tinh & Biên Khảo /

Nói Lái - Phước Nguyễn sưu tầm

 #1 · Posted: 7 Jun 2017 21:48 · Edited by: kimminh 
kimminh
Moderator
Nói Lái




Nói lái tiếng Pháp

Ông Lăng Nhân, trong quyển Chơi Chữ (5) có nhắc chuyện nói lái bằng tiếng Pháp.
Chuyện rằng, có một cặp vợ Việt, chồng Pháp vào hàng tranh sơn mài. V́ chủ
nhân nói thách quá nên vợ rỉ tai chồng: “très chaud, très chaud (nghĩa đen: nóng quá, nóng
quá). Chồng lật đật chọn tranh, trả tiền nhanh để ra ngoài cho bà vợ được mát hơn.
Vợ trách chồng khi ra khỏi cửa “Đă bảo đắt quá mà c̣n mua”. Chồng nói là có thấy vợ
kêu đắt đâu. Vợ bảo có nói rồi “très chaud” là “trop cher” (mắc quá).
Bà ấy đă nói lái theo kiểu VN, chắc chắn là “bố” của anh chồng cũng không hiểu được.

Nói lái cho vui về nguồn gốc của một người

Ông Nguyễn Ngọc Huy, trong quyển Tên Họ Người Việt Nam (8),
có thuật câu chuyện đại khái như sau:

Ngày xưa có nhiều người VN từ miền Trung tiếp tục vào Nam lập nghiệp.
Dân Nam, v́ không biết rơ địa lư miền Trung, gọi chung những người mới vào sau
là “người Huế”. Có nhiều người Huế làm nghề thầy lang lưu động. Một thầy
lang nọ tuy c̣n trẻ, nhưng mát tay đă chữa lành cho một phú hộ. Ông phú hộ cảm ơn thầy
lang bằng cách gă con cho thầy. Ông lại giúp vốn cho mở tiệm thuốc bắc. Chú rể nhờ cha
vợ đặt tên cho hiệu thuốc của ḿnh. Ông cha vợ đặt tên tiệm là “Thế Hoằng Dược Pḥng”.
Ông giải thích cho rể đại ư là nó làm việc cứu người nên đời mở rộng ra
(thế = đời; hoằng = rộng). Chú rể rất hài ḷng.

Khi có người khác hỏi ư nghĩa của hai chữ đó, ông cười và nói : Rể
tôi là người Huế, tôi đặt hiệu tiệm Thế Hoằng là để nhắc cho nó nhớ gốc gác nó là
Thằng Huế. (Trong trường hợp nầy nguyên âm “o” trong chữ “hoằng” đă được thay thế
bằng nguyên âm “u” trong chữ “Huế”. Đây chỉ là đọc cho thuận tai mà thôi, chớ lúc
nói lái không ai nghĩ đến việc thay đổi nguyên âm hay phụ âm, hoặc thay đổi “dấu” ǵ cả.

Nói lái v́ tục cữ tên

Cũng trong quyển sách trên, GS Huy c̣n nhắc đến một câu chuyện
“nói lái” khác do tục cữ tên mà có.
Ngày xưa, thời chữ nho c̣n thịnh, dân Việt có tục cữ tên hay c̣n gọi là kỵ húy.
Thí sinh của các kỳ thi trước năm 1920 là những nạn nhân đầu tiên. Nếu bài làm không
tránh những tên cấm kỵ th́ chẳng những bị đánh rớt mà c̣n có thể bị các biện pháp
chế tài khác. Nạn nhơn thứ hai là những người cầm bút. Và nạn nhân thứ ba
là các gánh hát. Tục cữ tên ảnh hưởng sâu rộng trong dân chúng. Theo GS Huy
th́ dân chúng đă phản ứng lại bằng cách dùng tiếng lái.

Số là vào những thập niên 1940-50 có những đoàn hát bội lưu động đi hát ở các miền thuộc “Lục Tỉnh”.
Trước khi đến một vùng nào th́ bầu gánh phải lấy danh sách của các chức sắc nơi đó để khi
hát, những diễn viên phải tránh tên trong danh sách đó hay đọc trại đi. Thí dụ tên của
ông cai tổng là Nguyên th́ khi hát, tất cả những chữ “nguyên” đều được đổi ra
“ngươn” v́ tên Nguyên phải cữ để tỏ sự kính trọng.

Có một gánh hát đến một làng nọ để hát trong dịp lễ “kỳ yên.”
Các vị hương chức trong xă họp bàn về việc cữ tên. Hội đồng xă đồng ư là
để cho tuồng hát được hay, miễn cho đoàn hát khỏi cữ tên các chức sắc, trừ tên hai anh em
của hai vị hào mục tên Ḥa và tên Hóa. Hai ông nầy rất hách dịch, nhứt định là đoàn
hát phải cữ tên của hai ông. Những người trong gánh đồng ư.

Nhưng để chơi xỏ hai ông này, họ thêm một màn diễu. Trong màn nầy có hai người đối đáp,
một người đóng vai lính. Người kia hỏi là trong quân ngũ, lính được ăn món ǵ thường xuyên.
Anh lính đáp: “Hoặc ăn cà, hoặc ăn cá.”
“Những người lanh trí hiểu đó là câu nói lái để móc họng ông Ḥa và ông Hóa đều ôm bụng cười,
trong khi hai ông này giận muốn hộc máu mà không làm ǵ được gánh hát.” (8)
(Xin thưa thêm cho rơ nghĩa:
hoặc ăn cà = Ḥa ăn c.t; hoặc ăn cá = Hóa ăn c.t.)

Tiếng lái có nghĩa riêng

Trong một video mà ông Nam Lộc và cô Nguyễn Cao Kỳ Duyên là MC
(rất tiếc không nhớ video tên ǵ), ông Nam Lộc phỏng vấn ca sĩ Chế Linh.
Ông có hỏi ca sĩ rằng hồi ở Saig̣n, những người ngưỡng mộ có gọi
đùa ca sĩ Chế Linh là ca sĩ “Lính Chê”, ca sĩ Chế Linh có giận không?”
Ca sĩ Chế Linh trả lời là ông được miễn dịch (lính chê) v́ là thuộc sắc
tộc thiểu số Chàm, và không phiền hà ǵ với tên riêng đó.
Tôi chắc là ông Nam Lộc cũng thừa biết là từ “lính chê” là tiếng lái của Chế Linh.
Tiếng lái nầy lại trùng hợp với t́nh trạng quân dịch của ca sĩ Chế Linh.

Nói lái đơn giản về người, thú vật và những chuyện hằng ngày

Trong video Vân Sơn số 3, trong hài kịch Ông Ninh Ông Nang (12)
(không thấy để tên tác giả) có một phần đối đáp sau đây giữa các hài kịch viên
toàn là câu lái, rất đơn giản và rất dễ hiểu về thú vật (cá, chim, chó, mèo),
về người (bà già, ông già, trẻ em, cô dâu, chú rể ) và các điều khác.

Con cá đối nằm trên cối đá;

Mèo đuôi cụt nằm mụt đuôi kèo

Chim mỏ kiến nằm trên miếng cỏ;

Chim vàng long đá tại ṿng lang

Chim sáo sọc chê anh sóc sạo;

Con chó què chân bị cái quần che

Cô bé mập ú là nhờ mụ ấp;

Thằng nhỏ ốm tong vác cái ống tôm

Chiều chiều cụ Măo lên rừng cạo mũ;

Sáng sớm bà Hạt đi bán bạc hà

Cô nàng dâu hứa đi mua dưa hấu;

Chàng rể bảnh trai ngồi tại băi tranh

Người mặc áo xanh chính là anh sáu;

Miếng thịt băm nát trong bụng bác năm

Anh chàng sức môi ngồi ăn xôi mức ;

Cô gái mồm to lặn lội ṃ tôm

Nhờ cái búa đỏ chẻ thành bó đũa;

Cái nồi cơm thiêu lại dám kêu thơm

Tấm h́nh lộng kiến ai đem liệng cống;

Cô gái muốn chồng ngó cái mống chuồn.”

Đến đây đă hết những câu lái trong Video Vân Sơn, nhưng câu chót
làm tôi liên tưởng đến câu lái khác cùng ư nghĩa: “Mống chuồng mọc giữa đồng
cḥi. Cái mống mọc ở giữa đồng b́nh thường như chuyện “muốn chồng” th́
“đ̣i chồng” phải không quư vị ?

Các nhà văn (hiện đă già, hoặc đă ra đi rồi) viết lái

Trong quyển “Hơn Nửa Đời Hư” (13) ông Vương Hồng Sển dùng tiếng lái nhiều lần.
Thí dụ “bất quá là bá quốc” (trang 465); “ủ tờ” (tiếng lái của từ ở tù, trang 477); và
“mống chuồng” (tiếng lái của “muốn chồng” trang 519) v.v... Ngoài ra, ở một đoạn khác,
để nhắc lại kỷ niệm chuyến Đông du thăm Đài Loan và Nhật của ông cùng vài người bạn Pháp,
cũng trong sách nầy, ông có ghi lại chuyện ở khách sạn Nhật.
Ông và người bạn Pháp không quen mặc áo kimono đă để sẵn trong tủ cho khách trọ.
Ông có dùng hai tiếng lái, với vẻ đùa cợt mà tôi xin miễn “thông dịch”, như đă hứa;
trừ gạch dưới hai tiếng lái là do tôi thêm, nguyên văn câu ông viết như sau:

“Đến cái áo kimono màu sặc sỡ, mỗi pḥng trọ đều có treo sẵn cho khách mượn,
Meken và tôi chưa quen, vừa xỏ tay vào, tấm thân bồ tượng áo che không khuất,
trống trước trống sau, đứa “lù coi” đứa “lắc cọ”, áo nhột nhột, cảnh thật buồn cười” (trang 590).

Công Tử Hà Đông (CTHĐ), báo Người Việt (1), dùng tựa đề “Saig̣n Tạp Pín Lù”
(tên một cuốn sách của ông Vương Hồng Sển), để phê b́nh nội dung của cuốn “Tự
Vị Tiếng Việt Miền Nam” của ông Sển. Bài báo nầy đă kể ra nhiều tiếng lái.
Có tiếng từ sách của ông Sển, đă được tác giả bài báo trích dẫn như “xe u mê”:

“Xe u mê: tiếng lóng để gọi xe thổ mộ, v́ sàn xe bằng gỗ cứng, khách ngồi bệt trên sàn,
ê ẩm bàn trôn, nhứt là khách phụ nữ đều phải ê mu, nói lái cho bớt tục.”

Có nhiều tiếng lái khác, và những tiếng đặc biệt được dùng thời tác giả CTHĐ sống
ở Saig̣n. Ông đặt câu hỏi cho chính ông là:

“Tại sao tôi không ghi lại với lời giải thích những tiếng, những thành ngữ sinh động, rung
rinh âm thanh, lung linh màu sắc trong tiếng nói của dân tộc tôi, trong thời đại tôi?”

Ư kiến của ông rất hay v́ những từ mà ông kể ra rất độc đáo, v́ có tính cách rất là Sàig̣n.
Trong số những tiếng đặc biệt đó, có một số là tiếng lái như: liệng cống, dấm sủ, chai hia, chà đồ nhôm.
Xin được trích dẫn sau đây cụm từ lái chà đồ nhôm, một thành ngữ lái có tính cách lịch sử,
tả cảnh nghèo đói của dân Sàig̣n, sau khi được phỏng dái (giải phóng),
phải đem bán bất cứ vật ǵ có thể chôm (lấy) được trong nhà.

“Chà đồ nhôm: chôm đồ nhà, tiếng Sàig̣n những năm sau 1975,
... Thời ấy Sàig̣n có câu phong dao:

Đi đâu bỏ con ở nhà?
Hỏi em em nói:
Đi chà đồ nhôm

Đi đâu tay xách, nách ôm?
Hỏi em, em nói :
đi chôm đồ nhà.” (1)

Giai thoại về nói lái của Trạng Quỳnh

Trong một số sách khác, tôi nhớ là có đọc một số chuyện vui liên quan
đến “Trạng Quỳnh”. Ông hay nghịch ngợm, chọc phá nhiều vị chức sắc trong triều,
kể cả con vua và vua nữa. Đại ư chuyện truyền rằng một hôm nghe công chúa đi
dạo ngoài thành. Trạng Quỳnh đứng đón công chúa ở gần bên một cây cầu. Khi công chúa
đi ngang qua cầu thấy ông Trạng nhà ta lấy chân đá nước văng tung tóe. Công chúa hỏi
ông đang làm ǵ đó? Ông trả lời là ông đá bèo cho vui.

Nhà thơ Hồ Xuân Hương nói lái

Tôi cũng nhớ có đọc nhiều lần trong các sách nào đó, thơ của Hồ Xuân Hương (HXH).
Nữ sĩ họ Hồ nầy là vua về thơ lái. Thơ lái của bà được ghi lại trong nhiều sách vở về
văn chương Việt Nam. Gần đây đọc quyển “100 Năm Phát Triển Tiếng Việt” (9), tác
giả Phụng Nghi có ghi lại bài thơ “Kiếp Tu Hành” của nữ sĩ họ Hồ:

Cái kiếp tu hành nặng đá đeo,
Vị ǵ một chút tẻo tèo teo
Thuyền t́nh cũng muốn về tây trúc,
Trái gió cho nên phải lộn lèo.

Ngoài ra tôi c̣n nhớ vài câu sau đây của HXH: (nhưng không nhớ tựa bài thơ)

Đang cơn nắng cực chửa mưa hè
Rủ chị em ra tát nước khe…

Hoặc:

Thú vui quên cả niềm lo cũ
Ḱa cái diều ai nó lộn lèo.

Các nhà thơ khác dùng tiếng lái

Theo sách vừa dẫn (9) thi sĩ Thảo Am Nguyễn Khoa Vy ở Huế có bài thơ như sau:

Nực cổi chi ra nổi cực ḷng,
Ḍng châu lai láng dĩa dầu chong
Khó đi t́m hiểu nhau khi đó,
Công khó nhờ ai biết có không

Ông Huy Phương (3) trong bài “Nói Lái Mà Chơi” cũng có ghi một bài thơ nói lái nổi tiếng khác của thi sĩ Nguyễn Khoa Vy:

Cầu đạo nên chi phải cạo đầu
Dầu lai dưa muối cũng dài lâu
Na bường bát tới nương bà văi
Dầu săi không tu cũng giải sầu

(Ông Huy Phương chú thích:
Na bường bát tới = mang b́nh bát tới, nói giọng Huế).


Ngoài ra trong bài “Nói Lái Mà Chơi” c̣n có một bài
thơ rất hay tựa đề “Trông Trời” mà Ông Huy Phương nói không biết tác giả là ai.

“Cô kia sao cứ trông trời
Để tôi xin nguyện làm trời cô trông
Trông trời sướng lắm phải không ?
Trời mà trông lại c̣n mong nỗi ǵ!

Đọc xong bài trên, các bạn có t́m thấy ư nghĩa của tiếng lái
không? Nếu không xin các bạn đọc câu chú thích của ông Huy Phương.
Ông có ghi rơ là bài thơ nầy muốn nói lái phải đọc theo giọng Bắc
hai chữ “trông trời” = “chông chời”.

Nói lái bằng câu đối

Trong sách Miền Đất Hứa (10) anh Trà Lũ (tôi gọi anh v́ Trà Lũ là bạn dạy học cùng
trường với tôi trước 1975) có ghi câu đối sau đây, câu đối vừa chơi chữ cách đối
vừa chơi chữ bằng cách dùng tiếng lái:

“Gái Củ Chi, chỉ cu, hỏi củ chi”.

Khi nghe câu đối trên, anh Trà Lũ đă kêu cứu “xin các cụ giúp tôi với”?
Quư bạn thừa hiểu là từ Củ Chi đầu là một địa danh gần Saig̣n; củ chi thứ hai ở cuối là
câu hỏi (củ nầy là củ chi vậy?) C̣n từ chỉ cu vừa là một động từ, vừa là
tiếng lái của cả hai từ cùng âm “củ chi”.

Cũng trong sách đó, ở một đoạn sau, Trà Lũ có nói rằng một số đọc giả viết
thư “gà” cho anh 2 câu như sau gọi là đối lại với câu trên:

“Trai Thủ Đức thức đủ xin thủ đức” và
“Trai Bắc cực, bú c., than Bắc cực” .

Anh Trà Lũ cho là câu đối sau nghe “khiếp quá, nhưng phải viết ra
tŕnh cho các cụ chấm cho”. Hai câu nầy đại khái, không được chỉnh lắm về
phương diện đối. Hơn nữa chắc bạn tôi v́ tính t́nh xề x̣a nên không để ư rằng
tiếng lái của “Bắc cực” là “bức c.” chớ không như ông đọc giả nào đó đă viết.
Và nếu dùng từ “bức” th́ chắc không có ǵ “khiếp quá” mà chỉ hơi hơi táo bạo tí
thôi. Chỉ ghi nhận cho vui chớ nào dám chỉ trích bạn ḿnh, v́ tôi cũng bí như bạn.

Mười năm qua rồi, trên con đường học hỏi về lái tiếu lâm, chưa t́m thấy câu nào hay
hơn câu Củ Chi mà bạn đă kể.

Gần đây đọc bài của Ông Nguyễn Đại Hùng (7) thấy câu Củ Chi được ghi như sau:
“Đến Củ Chi, chỉ cu anh, hỏi củ chi.” Và câu sau ghi là:

“Về Cù Mông, c̣ng mu em, đ̣i Cù Mông”.

Giai thoại về nói lái để hẹn ḥ qua câu đối

Gần đây hơn, vào mấy tháng đầu năm 2002, kể cả tháng bảy, đọc trong báo hằng ngày
tôi thường thấy những tiếng lái, nhưng chỉ là những tiếng rời rạc, cũng vui,
nhưng không lồng trong câu chuyện nào đặc biệt, nên tôi không ghi chép.

Tuy nhiên, trong một buổi tiệc sinh nhật tôi có nghe câu đối có tiếng lái. Câu chuyện rằng
ở miền đồng quê sông Hậu nhân có buổi gặp gỡ của các thân hào trong làng,
rồi trong câu chuyện qua lại, người ta nói về thời sự, đồng án, và văn chương.

Có một chàng nọ, trong câu chuyện về văn chương với một cô, đă nói:

Nguyệt Lăo xe tơ, chỉ vàng tốt mối

Nàng đă trả lời là:
Đế Thích nhấp chén rượu trắng tái môi.

Mới nghe qua, tưởng là chuyện câu đối với các điển tích.
Nhưng thực sự Nguyệt Lăo và Đế Thích chẳng “ăn nhậu” (liên quan) ǵ đến hai người nầy.
Họ chỉ hẹn ngày gặp nhau mà thôi. Chàng hẹn nàng tối mốt (tốt mối).
Nàng không chịu, bảo là tối mai (tái môi.)

Nói lái qua câu ḥ đối đáp giữa trai gái

Miền đồng bằng sông Cửu Long, vào mùa cấy các thợ cấy nam nữ vừa làm việc vừa vui
đùa qua chuyện tiếu lâm, hoặc qua những câu ḥ đối đáp giữa hai nhóm nam nữ. Ông Nam San
(6) có ghi lại một số câu ḥ có tính cách rất “tả chân” sau đây, trong đó có luôn cả
câu có tiếng lái.

Phe Nam:

Thấy em g̣ má ửng hồng
Phải chi em đừng mắc cỡ th́ anh bồng em hun.

Hoặc:

Nước Tân Ba chảy ra Trà Cú
Em cấy khum ḷi vú anh muốn hun

Phe nữ đáp:
….
Phú Điền có chị Tám Hai
Thuyền quyên ḥ mí, đối trai anh hùng.

Tân Ba, Trà Cú, Phú Điền
là những địa danh ở vùng đồng bằng Cửu Long. Mới đọc câu chót ít ai để ư đến
tiếng lái v́ gái thuyền quyên mà đối “trai anh hùng” th́ rất là thuận tai và thuận
nghĩa. Nhưng “đối trai” nói lái là đái trôi, vừa có nghĩa đen rơ ràng, khỏi giải thích,
vừa có nghĩa bóng là phe nữ có cách ḥ thắng phe nam một cách dễ dàng.
(Ông Nam San chú thích rằng: “Ḥ mí hay ḥ mép là ḥ đối đáp, thách thức, ṿng vo xuôi
ngược, nói lái úp mở nói lên cái ẩn dụ của ḿnh, miễn xuống câu ăn vận, đúng điệu là được.)

Giai thoại về học sinh “Văn B́nh”

Trong chuyện chơi chữ của các học sinh và những nhà nho mà tôi đă
đọc, th́ chuyện sau đây (tôi nhớ không được rơ ràng về chi tiết và tên tuổi) nói
lên sự đùa cợt bằng tiếng lái. Chuyện rằng có một nhà nho nọ văn hay, chữ tốt, thi
đậu cao, nhưng không chịu ra làm quan mà chỉ về vườn vui thú việc dạy học. Có một anh
học tṛ nọ rất hay chữ và tự cao về tài của ḿnh. Anh ta tên là Văn B́nh. Anh đi t́m
nhà nho nọ để thi thố tài đối đáp của ḿnh.

Trong lúc đi trên các con đường quê quanh co, anh ta gặp một ông câu cá, anh ta hỏi thăm
lối đi. Ông câu hỏi t́m gặp nhà nho làm ǵ? Anh sinh viên đáp là để đối đáp văn
chương. Ngư ông nói nếu anh sinh viên đối được câu đối của ông th́ ông sẽ dẫn đến
nhà của nhà nho. Ông giao điều kiện là khi ra câu đối, ông chỉ nói ra từng chữ một và
anh sinh viên phải đối lại từng chữ một.

Anh sinh viên bằng ḷng. Những chữ của câu đối là:

“Vơ trắc đáo nam cô”.

Anh sinh viên đối từng chữ là:

“Văn b́nh lai bắc cụ”

V́ khi đối là đối từng chữ một nên anh sinh viên không thể biết nội dung của cả câu.
Khi xong, ngư ông bảo anh sinh viên đọc cả hai câu xem nghĩa là ǵ và giải thích cho ông nghe.
Đọc lại, thấy câu đầu vô nghĩa. Nhưng đọc câu thứ hai xong, Văn B́nh vốn rất thông minh,
biết ông câu dùng lối chơi chữ lái để nhạo anh ta.
Anh ta cũng nhận ngay ra rằng chính ông câu là nhà nho mà anh đang t́m. Tôi không nhớ
đoạn kết của câu chuyện nầy ra sao, và cũng không nhớ đă đọc ở sách nào.


Giai thoại Mă Qui – Qui Mă

Phần cuối của việc trích dẫn sách, có hai tiếng lái đă thành giai
thoại rất hay. Trong giai phẩm Xuân Nhâm Ngọ Người Việt, Công Tử Hà Đông (1) có viết bài
Mă Qui và Qui Mă. Năm Ngọ nói chuyện mă là đúng quá rồi. Tác giả cho biết là hai từ
nầy và câu chuyện liên hệ là do một “cây cười nhân dân nào đó ở Hà Nội” viết ra
để làm chuyện tiếu lâm.

Chuyện đại ư là vào đầu thập niên 1980, kinh tế VN xuống dốc phi mă, thê thảm.
Người cầm đầu đảng và nhà nước v́ lo lắng quá nên đến đền Ngọc Sơn ăn chay xin thần linh
báo mộng giúp biện pháp cứu nước. Hai người đều được thần báo mộng. Người đầu
thấy con ngựa và con rùa, người kia th́ thấy con rùa và con ngựa. Tuy vô thần, nhưng tin mộng
và tin... thầy giải mộng. Hai người bèn nhờ thầy giải thích hộ.

Thầy giảng rằng rùa là qui, ngựa là mă.
Ông đầu thấy rùa và ngựa tức thấy qui mă,
ông sau thấy ngựa và rùa tức thấy mă qui.

Vậy theo điềm mộng th́ thần có ư cho hai ông biết là:
“muốn cứu văn nước nhà hai ông phải qua Mĩ xin Mĩ (a) nó giúp, bao
giờ Mĩ (a) nó qua nước ḿnh th́ t́nh h́nh nước ḿnh mới khá được”.

Tác giả bài báo cũng có viết rằng là chuyện tiếu lâm (nói lái) nầy
đă ra đời từ những năm đầu của thập niên 1980, khi chưa có dấu hiệu nào cho biết rằng Mỹ
sẽ bang giao với VN. Tác giả bài báo đó viết tiếp là:
“Hai mươi năm sau, chuyện mă qui qui mă thành sự thật.”

Chú thích (a) do tôi thêm:
các từ Mĩ nầy dùng “ ĩ ” v́ tiếng lái của
qui mă = qua mĩ, và mă qui = mĩ qua).

Với những trích dẫn vừa qua, chúng ta thấy văn chương, văn thơ, trong sách báo hay video
đều có nói lái, rải rác đó đây từ Bắc chí Nam, từ quốc nội đến hải ngoại.

Những lối nói lái qua tiếu lâm truyền khẩu, hoặc được ghi chép lại

Phần tiếp theo đây tôi sẽ ghi thêm những tiếng lái hay câu lái do tôi học hỏi hay lượm lặt trên con đường “tiếu lâm lái”.
Ngoài ra nơi nào cần, tôi sẽ trích dẫn sách.

Nói lái trong câu đố

Lúc tôi c̣n nhỏ, tôi biết được những tiếng lái đầu tiên qua các câu đố. Thí
dụ các câu đố sau đây:

a) – Ông cố ngoài Huế ông cố ai? (xuất vật)

b) – Ông đánh cái chen, bà bảo đừng? (xuất vật dụng)

Hoặc :

c) – Ghe chày ch́m giữa biển đông,
cái nốc nó mất cái công nó c̣n. (xuất vật).

Câu a) là “cái ô”; v́ cố ai = cái ô.
Câu b) là cái “chân đèn”; v́ “chen…đừng = chưng đèn.
Câu c) là “con c̣ng”, v́ “công c̣n = con c̣ng.

Nói lái tên thú vật

Các câu sau đây nói lái về thú vật, thức ăn, địa danh, hay nói đùa cho vui:

Con óc con nhện, con ếch con nhọng;

Con c̣ con sóc, con cóc con ṣ;

Con công con rùa, con cua con rồng;

Con cáo con ḅ, con c̣ con báo.

Hoặc:

Con cá đối nằm trên cối đá;
Ông c̣ Lửa đứng ở cửa ḷ.

Bên trên trong phần trích dẫn video đă có rất nhiều tiếng lái về thú vật.

Nói lái về các loại canh

Về thức ăn, trong bữa cơm của VN thường có ba món chánh: món mặn, món xào và món
canh. Sau đây là câu lái đùa về canh:

“Anh Câu Bành đánh lộn với anh Kí Banh,
ông Cai Cảnh làm biên bản,
giải lên ông Cai Khoanh để thụ lư.”

Các câu trên thật ra là tên của bốn loại canh: canh bầu,
canh bí, canh cải và canh khoai.

Nói lái về các địa danh

Về địa danh chúng ta có một số câu sau đây:

Chợ Thủ Đức năm canh thức đủ;
Chợ Đồng Tranh năm canh đành trông

Hoặc:

Ra Thủ Đức năm năm thức đủ
Về Giồng Trôm tháng tháng ḍm trông (4)

Hay các câu sau:

Đi chợ Búng coi chừng chúng bợ
Đến Hạ Long rát cổ họng la
Lên Bắc Cạn, nghèo đành bán c. t
Vào Ba Thê cuộc sống bê tha
Vượt sông Đuống, xuống Đông lên bắc
Trèo Đèo Ngang trong lúc đang nghèo

Ngoài ra c̣n có câu sau đây liên quan đến địa danh và nói lái, và có thể dùng câu nầy
làm vế đầu của câu đối. Vị nào đối hay xin ban cho một câu đối để chuyện thêm phong phú:

“Nếu chịu Bà Chở, Bà Chở sẽ chở xuống Chợ Bà Chiểu”

“Chở” vừa là tên của một bà, vừa có nghĩa là đem đi bằng một phương tiện giao thông (chuyên chở ).
“Chịu Bà Chở” cũng có hai nghĩa: Thích bà có tên Chở hoặc, “đồng ư cho bà đó chở đi”.
Tiếng lái của chịu Bà Chở là chợ Bà Chiểu một địa danh rất quen thuộc ở vùng Sàig̣n.

Vùng Đồng Nai Cửu Long có hai câu đối rất độc đáo, và nổi danh sau đây để chỉ một chàng trai người Hốc Môn,
và một cô gái người G̣ Công đang t́nh tự:

Trai Hốc Môn miệng hôn tay móc,
Gái G̣ Công chân gồng cẳng co.

Giai thoại nói lái về con Rồng Air VN

Trước năm 1975, hàng không Air VN có dấu hiệu con rồng uốn khúc.
Có một thời gian, không biết các cô tiếp viên phi hành có tư cách hống hách với khách hàng
thế nào mà các vị viết báo đă cho Air VN một cái nick name (tên riêng hay biệt danh) để đời
là Air rồng lộn. Các cô tiếp viên hống hách cũng bị gọi là các cô rồng lộn.
Tưởng một thời gian ngắn rồi mọi sự kiện sẽ bị quên lăng. Nhưng khốn nỗi cứ 12 năm
th́ có một năm th́n, tức năm con rồng, cái nick name nầy lại được viết ra trên báo xuân,
thành ra có thể nói đây là tiếng lái được các báo nhắc đến nhiều nhất, một tiếng lái để đời.

Những câu nói lái khác liên hệ đến con rồng.

Ông Đại Ngu (2) có ghi hai câu đối sau đây:
“Con Tiên Cháu Rồng,
Lộn xuống hồng trần sung sướng nhỉ.
Mộng hùm thơ Rắn, Sai đâu con tạo đỡ đần cho”

(Tác giả Đại Ngu có chú thích là chữ lái của “rắn sai” là “Rái săn”, đọc theo
giọng Hà Nội âm R thành âm D.)

Ông cũng có ghi thêm về giai thoại Tú Mỡ đùa thi sĩ Ngọc Hồ như sau: “Tú Mỡ viết bài
thơ trào phúng có hai câu khá tục, chắc đă làm nữ sĩ Ngọc-Hồ phải căm giận:

Hồ tù ngán nỗi con rồng lộn
Ngọc vết thương t́nh kẻ cố đeo”
(Tôi ṭ ṃ: Có lẽ bút hiệu Đại Ngu cũng là tiếng lái?)

Nói lái để tuyên truyền

Tôi nhớ, có một hôm, theo thường lệ, tôi chỉ đọc lướt qua những tựa của các bài báo.
Có một tựa có tên đại khái là: “Không phải thầy tu nhưng rất thù Tây”.
V́ chưa đọc bài báo, nên không biết nội dung ra sao. Nhưng v́ méo mó nghề nghiệp,
tôi nhận ngay chữ thầy tu là tiếng lái của thù tây hay ngược lại.
Chữ này làm tôi nhớ đến chữ thầy tăng v́ đó là tiếng lái của chữ thằng tây.
Số là trong thời kháng chiến chống Pháp giữa thập niên 1940, người ta truyền miệng trong dân
chúng hai câu sau đây:

Chừng nào lúa mọc trên ch́,
Voi đi trên giấy, rồi đời thầy tăng

Nói lái để cho mật thám không biết. Họ đồn đó là hai câu sấm “Trạng Tŕnh”.
Hai câu sấm nầy được truyền miệng giống như ư sấm đă bắt đầu linh nghiệm
v́ lúa đă mọc trên ch́: Pháp cho sản xuất tiền đồng xu và cắc bạc có h́nh cây lúa;
và cho lưu hành giấy bạc một trăm đồng có h́nh con voi (h́nh trang 126).
Ai có tờ giấy “con voi” trong túi là dân khá giả v́ $100.00 đồng lúc đó bằng 5
tháng lương của thầy giáo.

Những chuyện về nói lái ở VN sau 1975

Sau năm 1975, nghe những người “vượt biên” đến HK kể những chuyện “cười ra
nước mắt” để chỉ t́nh trạng nghèo khó của dân chúng.

Một ví dụ về sự túng thiếu của giáo chức: “Giáo chức bây giờ dứt cháo thôi”.

Một ví dụ khác về t́nh trạng chán nản, không muốn làm việc của các
công chức, cán bộ; khi bàn căi chuyện ǵ họ cứ muốn bàn lui hay giữ t́nh trạng cũ, do
đó mà có danh tánh “Vũ Như Cẫn”, hay “Bùi Lan” (= vẫn như cũ, hay bàn lui)

Rồi t́nh trạng đút lót cho được việc khi đi đến các cửa công xảy ra quá nhiều nên
nhóm chữ “nguyên tắc đầu tiên” được ra đời v́ điểm chánh là phải áp dụng “nguyên
tắc tiền đâu” nầy th́ mọi việc mới trót lọt cho. Không biết t́nh trạng nầy lan
rộng đến mực độ nào và bây giờ t́nh trạng ra sao, đành mù tịt v́ không thể nào polling để
thăm ḍ được.

Ngoài ra tôi c̣n nghe và đọc trong những bài sau đây về t́nh trạng nghèo đói đă nói trên:

Kỹ sư đôi lúc là cư sĩ
Thầy giáo lắm phen cũng tháo giày
Giáo chức giờ đây đành dứt cháo
Khoái ăn sang nên sáng ăn khoai (3)

Cảnh túng quẫn của thầy giáo cũng được nhắc đến trong một bài thơ khác, trong
sách vừa dẫn trên:

Thầy giáo tháo giày đi dép
Nhà trường nhường trà uống nước trong

Tháng đầy thầy đáng dăm lon gạo
Lương thầy tiền lính tính liền xong
Thầy giáo tháo ủng tháo giày
Tháo ủng thủng áo, tháo giày nóng chân
Giáo án dành lại khi cần
Thay vải dán áo việc làm “tốt thôi”.

Về những vấn đề tổng quát hơn, có những câu sau đây:

Chú phỉnh tôi rồi chính phủ ơi;
Chiến khu tiền bạc chú khiên rồi
Thi đua vượt chỉ, thua đi đấy,
Kháng chiến lâu ngày khiến chán thôi

Nói lái qua những chữ gốc Trung Hoa (TH), chữ Hán Việt (HV),
hoặc giống chữ HV


Ăn thịt mộc tồn

Một món nhậu đặc biệt của VN là món… thịt chó. Ai không ăn thịt chó
được, hoặc thèm thịt chó mà không mua được, th́ có món “giả cầy” thế vào, dùng gị heo,
nhưng nấu theo kiểu nấu thịt chó nên gọi giả cầy.

Ngày xưa, nghe nói có lúc Tây cấm ăn thịt chó. Nhưng ai đó nếu thèm quá
th́ cũng phải t́m cách ăn lén. Để tránh các phiền phức, họ dùng tiếng lóng để chỉ
con chó. Họ gọi chó là “mộc tồn” . Theo tiếng Hán Việt, mộc = cây, tồn = c̣n ; vậy
mộc tồn = cây c̣n = con cầy hay con chó cũng vậy.

Người ta c̣n dùng nhóm chữ “hạ cờ tây” để chỉ việc làm
thịt chó con (cờ tây = cầy tơ).
Thật là nhiều h́nh thức từ ngữ để tránh né, vừa vui, vừa hay quá cỡ thợ mộc.
Sau nầy những từ ấy trở nên thông dụng trong nhóm “xực cẩu xíu”, tiếng TH,
có nghĩa ăn chó quay.

Dấm xủ

Miền Nam VN có nhiều người Việt gốc Hoa. Do đó dân ta Việt hóa nhiều tiếng TH.
Thí dụ ăn chay (Quảng Đông: xực chay); ăn lẫu: ăn thức ăn nhúng trong nước lèo đựng
trong một cái dụng cụ nấu đặc biệt gọi là cái cù lao; gặm chí quách: gặm xương hầm, ăn
cháo ḷng hoặc ăn hủ tiếu để thêm dầu chá quảy v.v..

(Chú thích thêm: “dầu chá quảy”, tiếng TH đọc giọng Quảng Đông có
nghĩa đen là “quỷ chiên mỡ”, tích truyện vợ chồng Tần Cối, đời Nhà Tống đă bị xử tử;
hai vợ chồng bị trói lại và bị thả vào vạc dầu. V́ vậy chúng ta thấy cái bánh “dầu
chá quảy” luôn luôn gồm có hai miếng bột chiên dính liền nhau
(tượng trương cho vợ chồng Tần Cối).

Trong buổi ăn, người Tàu hay dùng một loại dấm đỏ chung với x́ dầu
(nước tương) làm nước chấm. Họ gọi dấm đỏ là xủ (giọng Quảng Đông).
Dân chơi tiếng lái khi vào tiệm ăn, thay v́ gọi xin dấm hay xin xủ, lại gọp chung cả hai từ
dấm và xủ, gọi người hầu bàn xin dấm xủ.
Một người gọi, cả bàn cười v́ tiếng lái đó (dấm xủ = dú xẩm đọc theo giọng Nam
của tiếng vú xẩm). Lẽ dĩ nhiên anh hầu bàn người Tàu cũng cười theo khách hàng cho
vui nhưng chưa chắc đă hiểu tiếng lái đùa cợt đó, (hay hiểu và thích cũng không biết được,
v́ anh TH mà thích dấm xủ là chuyện thường rồi, v́ là món ăn hàng ngày của “ngộ”
mà, không thích sao được).

Trà Thái Đức

Ngoài ra, những từ Hán Việt quen thuộc có nhan nhản trên các báo là tên các tiệm thuốc
Bắc, thuốc chế từ các loại dược thảo TH, hay tên của các loại dược thảo được bày
bán, (khác với thuốc Nam là các loại dược thảo có sẵn ở VN thuộc loại “cây nhà lá
vườn” dễ kiếm hơn), và tên của các loại trà v.v...

Nước trà nào cũng có tính cách nhuận tiểu. Uống trà nhiều vào buổi chiều, đêm
thường khó ngủ, có thể v́ trà có cafein làm mất ngủ, nhưng cũng v́ phải thức dậy nhiều
lần để đi tiểu. V́ vậy dân nói lái khi nghe mời dùng trà ngon thường hỏi nhau là trà
nầy có phải là trà Thái Đức không? Hỏi xong, chủ khách cười x̣a (thái đức = thức đái).

Vào buổi sáng, đến tiệm ăn tiệm xâm, thưởng thức “xíu mại”
và x́ dầu pha dấm xủ, và uống trà thái đức th́ tuyệt rồi c̣n ǵ bằng. Chỉ một vài tiếng
lái thôi mà không khí buổi điểm tâm vui nhộn lên.

Vua Tự Đức nói lái

Nhắc đến nói lái, không thể thiếu giai thoại về vua Tự Đức. Chuyện truyền rằng
một hôm Tự Đức đi dạo trong cung với chú ḿnh là Tuy Lư Vương (tên hiệu của hoàng thân Miên
Trinh (tên Miên Trinh ít người biết đến), một nhà thơ nổi tiếng, có tài ứng đáp nhanh
chóng). Khi thấy các hoạn quan đi ngang, vua hỏi TLV:

Vi sương tự địch ?

TLV hiểu câu hỏi liền đáp :

Dĩ phát nhi phùng

(v́ vốn liếng HV của tôi rất ít nên không biết có chép đúng các chữ HV bên trên như
một bạn tôi đă thuật lại trong một buổi gặp gỡ các bạn già.) Đại khái khi “dịch” chữ
HV ra tiếng Việt th́ hai câu trên như sau:

Làm sương cho sáo?

Và:

Lấy tóc mà may.

Chắc các bạn không cần “thông dịch” ra tiếng lái hai câu trên v́ tiếng lái đă quá
rơ ràng về t́nh trạng của các hoạn quan. Nếu chuyện nầy có thật th́ vua Tự Đức và Tuy Lư
Vương đă biết dùng HV xen lẫn với tiếng Việt để nói lái và đă dùng cách lái “ba chữ”
(ba từ) trong câu chuyện nầy.


Phú hộ hà tiện (tiếng nói lái giống tiếng HV)

Có câu chuyện khác, rằng có một phú ông họ Tạ kia tuy giàu tiền, nhưng ít chữ
nghĩa. Đầu ông ta hói, và nổi tiếng là hà tiện .. từng xu. Tết đến, ông ra
chợ nhờ cụ đồ nho viết câu đối trên giấy đỏ để treo ở nhà. Cụ đồ đề nghị
viết chữ “họa” giống như vẽ cho đẹp và đề ra giá công viết là một đồng.
Phú ông kỳ kèo trả giá năm cắc thôi. Ông đồ chịu và viết cho 2 câu sau đây:

Hiền Tạ Thu Sương tâm tắc kiết;
Thiên Tường tác biệt thị Châu đài.

Ông đồ giải thích đại khái là bà phú hộ tên Thu Sương, c̣n ông tên Tường. Họ
Tạ hiền hậu, bà nhà có tấm ḷng tốt (kiết). C̣n ông nhờ trời (thiên) ban cho
cách riêng nên giàu có như con cháu nhà Châu thời xưa. Ông phú hộ nghe xuôi tai,
vui vẻ trả năm cắc và đem tấm giấy đỏ về dán trước cửa. Một hôm bạn ông,
một người giỏi chữ nho, ghé thăm. Phú ông khoe câu đối.
Bạn của phú ông đọc lui đọc tới hai câu trên, thấy chẳng có nghĩa ǵ cả.
Sau một lúc ông ta phá lên cười v́ ông phú hộ đă bị ông đồ nho chơi xỏ.
Hai câu trên chẳng phải chữ nho với điển tích ǵ cả mà chỉ là
hai câu gồm một số từ tiếng lái và một số không phải tiếng lái, viết ra như sau:

Hà tiện thương xu, tâm tiếc cắc (tâm tiếc từng cắc)
Thương tiền, tiếc bạc thị chai đầu (chỉ đầu hói)

Phú ông nghe câu giải thích mới, xé câu đối và chắc lưỡi hít hà, vừa rủa cụ
đồ, vừa tiếc đă mất năm cắc, nên quên mời ông bạn vào nhà xơi ... “nước mát.”



Sent from my iPad

Phước Nguyễn sưu tầm

Linh Tinh & Biên Khảo MacDinhChiReunion.net / Linh Tinh & Biên Khảo / Nói Lái - Phước Nguyễn sưu tầm Top

Your Reply Click this icon to move up to the quoted message

 

 ?
Only registered users are allowed to post here. Please, enter your username/password details upon posting a message, or register first.
 
  MacDinhChiReunion.net Powered by Forum Software miniBB ®